Sponsors

Giới Thiệu

Friday, January 5, 2018

Giới thiệu xã Cảnh Dương (Phần 7) - Phong tục tập quán


Phong tục tập quán
1. Phong tục lễ tết
Những phong tục tập quán tế lễ, hội hè, cưới hỏi, ma chay ở làng Cảnh Dưong vôh có từ lâu đời. Làng có truyền thông sinh hoạt ăn ở nền nếp. Thôn, xóm dân cư đông đúc nhưng nhà cửa, lối xóm, đường thôn được xây dựng quy củ, sạch sẽ, tạo đường nét văn minh từ ngày lập làng và phát triển đền ngày nay.
Đời sông văn hóa các xóm, thôn của xã Cảnh Dưong rất phong phú, đa dạng và mang đậm bản sắc của một vùng quê. Phong tục tập quán thờ cúng, tế lễ, hội hè, ma chay, cưới xin, cách ứng xử, giao tiếp và nhiều nét đẹp khác đã tác động sâu sắc tới đời sống tinh thần của mỗi người dân Cảnh Dương cho dù họ sinh sống ở đâu. Tế lễ là một tín ngưỡng thờ thần linh mang tính cộng đổng, nhằm bày tỏ lòng tri ân và cầu mong điều tốt lành trong cuộc sống.
Một năm có nhiều lễ tiết, nhưng Tết Nguyên đán đầu năm giữ vị ữí quan trọng nhâ't, sau đó là các lễ tiết khác như Thượng nguyên (15 tháng Giêng), Đoan Ngọ (5 tháng 5), Trung nguyên (15 tháng 7), Hạ nguyên (15 tháng 10).
Trong ba ngày Tết Nguyên đán lại có những lễ có vị trí và ý nghĩa khác nhau:
Lễ thượng nêu vào ngày 30 tháng Chạp, ngày cuối cùng của năm âm lịch và hạ nêu ngày 7 tháng Giêng (ngày nay đon giản chỉ thường từ ngày 30 tháng Chạp đên mồng 3 tháng Giêng).
Lì tất niên vào chiều 30 Tết, là buổi tụ họp gia đình sau một năm cần cù lao động, những người đi làm ăn xa cũng về trước lễ trừ tịch để chung vui cùng gia đình mình.
Trong những ngày Tết đầu năm, mọi người đều tự nhận thức được ý nghĩa sâu xa: "Hội tụ đoàn viên, gắn bó tình cảm họ tộc, cộng đổng làng xóm, ngày lành tháng tốt, xóa bỏ đi những giận hờn, cãi vã và hiềm khích". Đó chính là sợi chỉ đỏ về ý nghĩa nhân văn đạo đức của ngày Tết.
Đêm 30 Tết, ở các đình chùa, miêu tự đều có lễ dâng hương thành kính. Đình Thành Hoàng, đình Tổ là nơi tổ chức các lê, quy tụ các tầng lớp dân cư đền tưởng niệm, lạy bái thần linh.
Lỗ giao thừa vào lúc 12 giờ đêm ngày 30 Tết là thời diêm quan ữọng, thiêng liêng giao giữa năm cũ và năm mới.
Làng Cảnh Dương có tục đốt lửa trong lễ giao thừa tại đình làng. Sau khi tiến hành lễ giao thừa, ông Chánh lễ trân trọng cầm ngọn đuốc châm từ chính điện đi ra sân đình đốt vào đống củi to, ngọn lửa cháy thành đống than hồng đỏ rực. Đây là lửa của thần linh, của giang sơn nên mọi người dân Cảnh Dương đều được đưa ngọn lửa thần về nhen lại trong bếp gia đình để giữ ữuyền thông và may mắn trong năm. Do đó, dân làng rất thành kính coi trọng lê giao thừa, từ các ngả đường, người lớn, trẻ em cùng nhau ra đình làm lê và lấy lửa hổng về cho bếp nâu nhà mình, ngọn lửa thiêng liên tục được nhóm lên trong ba ngày Tết cho đến lê đốt vàng đưa ông bà về cõi cực lạc. Cảnh Dương còn giữ lê Nguyên đán, được tiến hành vào lúc rạng đông ngày 1 tháng Giêng. Thời điểm từ lễ giao thừa đến lễ Nguyên đán, các gia đình đều thắp hương cúng vái những nơi có thờ tự từ bàn thờ tổ tiên, bếp, thiên đài, cửa ngõ, tàu thuyền, phương tiện sản xuât theo quan niệm "Đất có thổ công, sông có hà bá".
Lễ châm đạc (động mõ) vào ngày mồng 3 Tết. Đây là ngày trọng thể được dân làng quan tâm, cũng là ngày phần đông các gia đình cúng "đốt vàng" để đưa tiễn ông bà sau những ngày ăn Tết cùng con cháu.
Sáng tinh mơ, từ ữong nội đình ra đến tận các sân thượng hạ, các loại đổ thờ, bát bửu, cờ thẻ, lọng tán được ữang trí nghiêm trang, lộng lẫy. Từng nhịp trống tam thất hòa cùng mã não, trống lớn thôi thúc mọi người nô nức tham gia.
Lỗ gồm hai phần: rước thần về đàn động mõ, lễ động mõ và rước thần trở lại đình.
Ban hành lễ gồm hai bộ phận: văn và võ; văn chuyên lo việc tế lê, võ chuyên lo việc rước sách. Bộ phận quan viên bản văn gồm chánh lê, bổi tê' xướng lễ, tín hiệu và các quan viên phục dâng hương, dâng rượu. Bộ phận quan viên bên võ gồm đại hiệu, người chỉ huy buổi rước, các vị phụ tá kim thanh, tiểu cổ, các quan viên cầm thẻ bài, cờ lệnh, đội bài ban do hai tiền hô điều khiên và một số tráng đinh phục dịch việc cắm cờ, lọng tán, gánh kiệu rước.
Toàn bộ quan viên chức sắc, nho sinh, xã nhiêu, nộp dịch trực tiếp phục vụ buổi lễ là gần 100 người. Tất cả đều mặc trang phục nghiêm chỉnh, theo đúng quy định lễ phục.
Rước động mõ có hai kiệu, kiệu chính nhỏ, được chạm trổ tinh vi, kết cấu đầu rồng, đuôi phượng, được đặt một chiếc bổ hương lớn có cắm một chiếc tàn nhỏ xinh để che bổ hương. Chiếc bổ hương được thắp một cây hương to, với đường kính 3 cm, dài 60 cm, thắp cháy từ 1 - 2 ngày mới tàn. Buổi rước chính là chiếc bổ hương đặt trên kiệu, đây là chiếc bổ hương tượng trưng cho cộng đổng thần linh và được tôn sùng là linh thiêng nhẩt.
Đàn động mõ là một bãi cát sạch sẽ, được trang trí tôn nghiêm giữa trời vói nhiều đẳng thư đặt bồ hương cộng đổng, cờ thẻ các bộ tam ngũ sự, cờ xí, các đổ bát bửu trong khuôn viên đình Đụn. Từ đình Lớn đến đình Đụn đi hơn 500 m, với nghi lễ rước trang nghiêm, thành khẩn, với thời gian rước hơn một giờ, mới đặt bổ hương cộng đổng vào vị trí đàn; khi toàn bộ đội hình văn đã ở tư thế sẵn sàng, ban hành lễ tiến hành lễ cáo yết trời đất gọn nhẹ với một tuần hương, lễ châín đạt khởi hành, vị quan viên được làng cử làm nhiệm vụ động mõ khoan thai tiến vào đăng đàn lạy tạ, nhận dùi mõ và tiến về vị trí đặt mõ thực hiện động mõ. Vị quan viên được làng cử động mõ không những phải hiểu lễ nghi mà phải bình tĩnh, chủ động, mới đánh mõ (đúng 100 tiếng) với khoảng cách đều đặn cùng tiêng vang của âm thanh mõ làm lay động lòng người.
Từ lễ đốt lửa ở đình vào đêm giao thừa, từ tiêng động mõ đầu năm mói, nhiều người dân của làng đã chiêm nghiệm, luận ra sự hưng thịnh, bình yên của làng trong năm tói.
2. Lễ kỳ yên: sau lễ động mõ, các vạn, phường, các thuyền câu lưới, chị em buôn bán chọn ngày xuất hành, lại một dịp pháo nổ, nhất là ở cửa lạch khi các thuyên bắt đầu ra cửa lạch. Sau lễ Tết đầu năm mới, lê kỳ yên hay cầu yên được tổ chức, đây là một hình thức tín ngưỡng tổn tại trong đời sống và tâm thức của cộng đổng người Việt từ bao đòi. Le do làng chủ trì, có sự tham gia của các gia đình với cô xôi, nải chuối theo lòng thành. Buổi lễ bắt đầu từ đình Tổ và kết thúc tại bãi kỳ yên.
Ngày nay, ở nhiều làng quê, để cầu mong cho con dân đi làm ăn tiên đổng, ngoài bãi, trên sông biển, noi núi rừng đều được thuận lợi, may mắn, ngày mùng 7 hạ nêu cũng là ngày tiên hành lê khai hạ của làng.
Ở làng Cảnh Dương cũng có lễ cầu ngư, cầu mùa được tổ chức thường niên vào ngày rằm tháng Giêng.
Lê tế tổ tiên ở làng Cảnh Dương được tiến hành trang nghiêm. Trong buổi lễ, sau phần dâng hương, dâng rượu, nội dung quan trọng là đọc bản chúc văn để thỉnh mời chư vị tổ tiền khai khẩn, đổng khẩn và những người có công đủ điều kiện được làng thờ phụng (người xưa thường đọc lại hương ước của làng để nhắc nhở mọi người ghi nhớ).
Vật phẩm lễ gồm cỗ xôi, con gà, thịt lợn của làng, còn các gia đình thì chuẩn bị cỗ xôi, con gà. Sau lễ, ban ngũ huơng, hội đổng hào mục, hội tu văn họp đê hoạch định việc làng cho năm sau.
Ở Cảnh Duơng còn có lễ hội mùa xuân, lễ hội này vân được lưu giữ lại trong một bộ phận dân cư. Phần lễ chỉ mang tính tưởng niệm, biểu thị lòng tôn kính với thần linh và cầu mong được phù hộ, ban phước lành, đó là mong muốn của cả cộng đổng nên do cộng đồng chủ trì tổ chức. Thông thường hằng năm chỉ có rước cô gà, cô chén và tế thần trong ba ngày đêm, tập trung vào chiều và tối.
3. Lễ tế ngưu: vật phẩm tế ngưu ngày xưa phải là trâu, sau này chuyển sang bò. Buổi lê này cũng như buổi lễ tế tổ, phần quan trọng là đọc chúc văn, bản chúc văn là lòi chúc tụng và danh sách thỉnh mời chư vị thần linh, các vị khai khẩn, các vị quan có công vói làng được ghi rõ tên tuổi, chức vụ theo thứ tự câp bậc, công lao. Tuy danh sách thỉnh mời nhiều nhưng tập trung vào hai loại:
-   Thần linh huyền thoại được xem như thật vì có chức vị, có sắc phong của các triều vua, được phong loại thượng đẳng thần, thuộc loại siêu nhân.
-  Người của làng có công đức là các vị khai khẩn đêh các danh nhân có công với làng, kể cả những người đóng góp tiền cho làng thuộc hàng hậu thần, hậu tự.
Sau khi lễ xong, vật phẩm được phân chia để đi kính các vị chức sắc từ tiên chỉ, thứ chỉ, đên các vị hào mục chức sắc theo vị trí phẩm hàm. Số còn lại được chia đều thành từng phần cho tất cả mọi gia đình như lễ tế tổ.
Buổi lễ tế ngưu mở màn cho hội làng. Sau đó lê hội diễn ra ữong ba ngày đêm. Ngày nào cũng tiền hành hai lê rước cổ và một buổi tế thần, từ 4 giò chiều đền 4 giờ sáng.
Rước cỗ gà, cỗ chén là rước cô để về cúng thần chứ không phải rước thần. Đoàn rước sắp xếp đội hình cũng gần giống như rước động mõ. Buổi rước được tiến hành theo nghi lễ, từ lúc rước cô từ nhà chủ về đình làng theo đúng giờ quy định.
Rước chúc văn được tiến hành sau khi rước cô gà, cô chén xong. Buổi rước chuyển về đêm được những ánh đèn tỏa sáng làm cho buổi rước càng thêm uy nghiêm, trọng thể. Buổi rước là đưa bản chúc văn từ hội sở tư văn về đình Lớn. Chúc văn cũng là bản thiếp chúc tụng lại mọi vị thần linh, các vị tiền bối, người có công với làng nên càng tôn thêm sự cung kính, trọng thể. Khi chúc văn được đặt đúng vị trí, toàn bộ văn, võ có trách nhiệm của các buổi rước chuyển sang lễ tế thần.
Tế thần là một buổi chiêu đãi tượng trưng của dân làng đối vói chư vị thần linh và tổ tiên tiền bối mà làng đã thờ tự. Tế thần là một nghi thức tín ngưỡng và văn hóa dân gian thu hút các tầng lớp con em của làng xã đến xem với tấm lòng trân trọng.
Cảnh Dương còn có một loại hình "ca đình sở, rước du xuân" được tiền hành năm năm một lần, địa điểm tại đình Đụn. Buổi rước đưa các vị thần linh từ nội đình ra quảng trường đúng theo các công đoạn như buổi rước động mõ; chỉ khác về quy mô, đội hình gâp ba lần, với nhiều nghi thức bổ sung như thị nam, thị nữ, đánh cờ ngưòi, nấu cơm và các trò vui khác. Ca đình sở, rước du xuân cắm trại dã ngoại tại đình Đụn năm hoặc bảy ngày đêm và cùng dân làng vui vẻ liên hoan du ngoạn. Mãn hạn mới ruóc các vị thần linh về đình làng.
Từ tế lễ, hội hè, việc làng, việc xóm, việc thôn đền việc họ, giô những bậc khai sinh dòng họ đên giô tổ hên, ông bà, cha mẹ, đuợc hên hành tùy theo gia phong, không cần mâm cao cô đầy. Việc giô họ và giỗ ông bà, cha mẹ vừa là đạo hiếu, bày tỏ lòng tri ân tiên tổ, cha mẹ, vừa là dịp để con cháu tụ hội, giáo dục ý thức huyết thông dòng tộc, thêm gắn bó, yêu thuơng, đùm bọc lẫn nhau.
Tang lễ:
Việc hiểu rất được nhân dân trong làng, xóm, thôn, họ tộc quan tâm. Với ý thức "nghĩa tử là nghĩa tận", khi có người qua đời thì trong họ tộc, trong thôn xóm, mọi người đều đến viếng thăm, chia buồn và giúp đõ. Trưởng tộc làm lễ cáo yết tổ tiên, thông báo bà con trong họ tộc đến lo tang đám với tang chủ.
Trong đám tang, có đội phục dịch đưa tang chuyên nghiệp, khoảng 40 người hợp thành một phường, do một cụ làm phường trưởng. Trách nhiệm chính của họ là khiêng nhà đưa, linh xa... đến mộ chí và trả lại nhà bảo quản. Đội phục dịch được hưởng tiền thù lao của gia chủ theo nội quy quy định và tiền thưởng của gia chủ tùy theo lòng hảo tâm. Những gia chủ nghèo, đội cúng lại một số tiền hương khói, đó là lòng hảo tâm giúp đỡ nhau.
Các nghi thức nhập quan thành phục (chít khăn tang), phát tang, hạ huyệt đã trở thành thông lệ phải tuân thủ. Người ta căn cứ vào tuổi người mất, ngày giờ mâ't mà vận dụng để định giờ, ngày tiên hành những nghi thức hên. Các cố lão mâ't, thì hàng chắt được chít khăn vải điều, vải vàng.

Đám đưa tang là trọng tâm của thời gian tang lễ. Le đưa tang có nhà đưa để linh cữu người quá cố; linh xa để bài vị, bổ hương người chết và lổng triệu ghi tên tuổi, quê quán của người chết. Ngoài ra, còn có trung tín hay chinh thuận tùy đối tượng và bàn án, câu đối, bức trướng tùy theo người quá cố và gia đình có mối quan hệ bạn bè, láng giềng rộng hay hẹp. Ông bá lệnh đánh trống đại là người chủ trì điều khiển đám đưa tang với hai ông phụ tá đánh kim thanh, tiểu cổ trực tiếp điều khiển nhịp đi, giữ thăng bằng cho quan tài.
Ở Cảnh Dương, hầu hết các gia chủ đều tổ chức lễ 50 ngày, 100 ngày, nửa tang (một năm) và mãn tang (hai năm).
Theo tục lệ, những gia đình có đại tang phải tránh đến những nơi lê hội, các cuộc hoan hỉ như cưới hỏi, lên cột nhà, đẩy thuyền,... Trong gia đình thì tạm hoãn việc cưới, hỏi cho con cái, anh em.
Cưới hỏi:
Việc hôn nhân - cưới hỏi là việc rất quan trọng của đời người, khi đến tuổi trưởng thành cũng là mối quan tâm lớn của các bậc cha mẹ.
Ở Cảnh Dương cũng như nhiều làng quê khác, trong thời phong kiến, tục lệ mai mối, dạm hỏi, cưới xin đều phải tuân theo lệ "cha mẹ đặt đâu con ngồi đây" và theo "môn đăng hộ đối", "nổi tròn úp vung tròn, nổi méo úp vung méo". Tuổi tác, tướng người bị chi phối khá nặng ữong việc lấy vợ, lấy chổng.
Việc hỏi, việc cưới ở Cảnh Dương được tổ chức qua nhiều thủ tục, tập quán rất cẩn thận, vói những nghi thức: làm mối, đi dạm hỏi, đi làm rể, đi làm dâu, lễ cưới. Mỗi nghi thức có cách tiến hành cùng lễ nghi, lễ vật riêng.
Nhưng điều cơ bản nhất là sau khi bà mối qua vài lần thăm dò, trò chuyện biết đã thuận tình thì chính thức đặt vân đề "kết tóc xe tơ" cho đôi lứa trăm năm. Từ lễ hỏi đến khi đôi lứa nên vợ nên chồng, hai gia đình làm theo phương châm "thương con ngon mọi việc" nên đều "vun xới" cho đôi lứa thành vợ thành chồng. Việc hôn nhân ở Cảnh Dương từ xưa đến nay không có lệ ăn uống linh đình, lãng phí tuy phải qua nhiều lễ nghi. Khi nam nữ thanh niên đến tuổi đã lập gia đình, họ thường sống thuận hòa, tự tạo lập cuộc sống hạnh phúc từ hai bàn tay gây dựng nên với sự hô trợ động viên của cha mẹ đôi bên. Vì thế, trong làng, chuyện vợ chồng ly dị nhau xảy ra râ't hãn hữu. Đó cũng là nét đẹp văn hóa gia đình mà người dân Cảnh Dương vẫn lưu giữ được cho đến ngày nay.

Bài viết và biên soạn lại

Giới thiệu xã Cảnh Dương (Phần 6) - Nhân vật lịch sử


Nhân vật lịch sử
Địa linh gắn nhân kiệt đã làm rạng danh đất Cảnh Dương giàu truyền thống văn hóa lịch sử và xã Cảnh Dương anh hùng trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp và chống Mỹ.
Giai đoạn trước thế kỷ XX
Cảnh Dương có 77 vị tú tài, cử nhân, tiền sĩ khoa bảng. Trong đó, tiên sĩ của làng có tám vị.
Trong những tiên sĩ khoa bảng có nhiều ngưòi công danh hiên hách, sông làm danh tướng, chết làm danh thần, tiêu biểu là:
1. Đỗ Đức Huy:
Nhà giáo dục có công với làng xã Đô Đức Huy nổi tiếng là người học trò đặc biệt thông minh, ông đô sinh đổ khoa Bính Tý (1756) đời Cảnh Hưng, Lê Hiến Tông. Đỗ Đức Huy từng giữ chức tri huyện Hưong Sơn. Vì có công dẹp loạn, an dân, ông được chuyên qua làm quan võ, thăng quân cơ, sau làm sơn nam trân.
Khi về quê, ông mở trường dạy học ở ữước Văn Miêu, học trò đến theo học rất đông. Nhiều người đô đạt, thành tài đã tìm đến hương cống.
Ông sống gần dân, yêu thương những người dân lao động. Ông còn là người cầm đầu đoàn người trẩy kinh xin miễn thuế mắm Hàm Hương cho Cảnh Dương. Từ đó, nhân dân không phải nộp thuế mắm Hàm Hương nữa. Sau khi ông mất, dân làng lập miêu thờ và truy tôn ông là "Đỗ tướng Công".
2. Tiến sĩ Phạm Chân - hiệu Tố Trai
Theo "Văn hội tích bi ký" - tâm bia tại miêu văn chỉ của làng dựng năm Canh Tý (1900), tức năm Thành Thái thứ 12 - ghi chép như sau: "Mậu Tuất Khoa (1888) sắc tứ đệ tam giáp đổng tiến sĩ xuất thân, Phạm Chân sĩ chí "Án sát" . Ngày 25-2-1860, đồn Chí Hòa thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương, án sát Phạm Chân tuân tiết.
3. Tổng đốc Đỗ Phú Túc
Ông sinh năm 1849, là một danh sĩ tên tuổi, từng đỗ đầu bút thiếp, làm quan án sát tỉnh Hà Nam, Tuần Vũ Nam Định, sau khi làm tổng đốc tỉnh Bắc Giang đuợc phong hiệp tá đại học sĩ. Ông là nguời đi sứ Trung Quốc cuối cùng trong triều Nguyễn - quý danh Đỗ Tuông Công. Khi làm tổng đốc ở Bắc Giang có nạn lụt lớn làm võ đê sông Hồng, nhờ sáng kiến của ông mà ngăn được nước lũ không tràn vào làng quê, nhân dân tri ân ông đã lập đền thờ sống "Thành Hoàng". Khi về hưu sống ở quê nhà, ông là người đạo cao đức trọng và có công lớn trong việc đôn đốc, thành lập trường Việt - Pháp - Roòn, tức trường Tiểu học Cảnh Dưong ngày nay. Ông khuyến khích sự nghiệp giáo dục quê hương phát triển trở thành làng khoa bảng, con cháu đỗ đạt thành danh. Thời kỳ Văn Thân, ữong một dịp về làng, ông đã khéo léo ngăn chặn được ý đổ hủy diệt làng Cảnh Dưong bằng đạn pháo của thực dân Pháp. Nhân dân Cảnh Dưong biết ơn ông, thường gọi là cụ Thượng - Thượng thư Đỗ Phú Túc.
Giai đoạn từ đầu thếkỷ XX đến nay
4. Liệt sĩ - phóng viên ảnh Đình Thúy
Ông tên thật là Bùi Đình Túy, sinh năm 1904 tại thôn Liên Trung, xã Cảnh Dương, ữong một gia đình nghèo. Thuở học trường Tiểu học Roòn, ông đã rất say mê nghệ thuật, hội họa, tạo hình. Đô Prime, ông thi vào học trường Bách nghệ Hà Nội, chuyên ngành ảnh, hội họa và tích cực hoạt động phong trào học sinh, sinh viên yêu nước. Năm 1936, ông tham gia bãi khóa, để tang cụ Phan Châu Trinh nên bị đuổi học. Rời Hà Nội, ông vào Sài Gòn tiếp tục tham gia phong trào đâ'u tranh yêu nước và bị giặc Pháp bắt. Sau khi trốn khỏi nhà tù thực dân, ông tích cực hoạt động trong tổ chức Việt Minh Sài Gòn - Chợ Lớn. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đình Thúy công tác tại Sở Thông tin Sài Gòn, làm phóng viên báo Cảm Tử của đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Sau Hiệp định Giơnevo (1954), Đình Thúy tập kết ra Bắc, nhận công tác tại Thông tấn xã Việt Nam. Trong dịp Bác Hồ và đoàn đại biểu Chính phủ ta đi thăm hữu nghị chính thức Cộng hòa Ân Độ vào tháng 2-1958, Đình Thúy được đi theo đoàn chụp ảnh các hoạt động của Bác và đoàn.
Năm 1965, Đình Thúy tình nguyện lên đường vào Nam chiến đấu trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Ngày 21- 9-1967, ông hy sinh ờ tuổi 63 tại mặt trận Trảng Dầu (Sông Bé cũ) sau khi hoàn thành nhiệm vụ tường thuật toàn bộ diên biên của Đại hội anh hùng, chiên sĩ thi đua toàn quân giải phóng miền Nam. Đến nay, hài cốt của ông vẫn chưa được tìm thây. Để ghi nhớ những đóng góp to lớn của ông đối với cách mạng miền Nam và Sài Gòn - Chợ Lớn, nhân kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định lây tên liệt sĩ Bùi Đình Thúy đặt tên cho một con đường và một cây cầu ờ quận Bình Thạnh.
Để tưởng nhó người con ưu tú của quê hương đã hy sinh cho Tổ quốc, Đảng ủy, chính quyền và nhân dân xã Cảnh Dương đã tổ chức xây mộ (không hài cốt) cho ông ở vị trí hàng đầu ở nghĩa trang liệt sĩ xã nhà.
5. Liệt sĩ, Anh hừng lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Ngọc Thạnh
Ông sinh năm 1930 là con trai họa đổ Đỗ Như Khương, cháu nội quan thượng thư Đỗ Phú Túc. Do sớm giác ngộ cách mạng, năm 17 tuổi ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, được Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn bố trí hoạt động gây dựng phong trào đâu ữanh cách mạng ữong học sinh, sinh viên. Đỗ Ngọc Thanh được giao phụ trách Hội Học sinh Nam Bộ, rồi làm bí thư Đảng Đoàn đầu tiên của Sài Gòn - Chợ Lớn. Trong cuộc biểu tình ngày 9-1- 1950, mặc dù đã bị lộ nhưng Đỗ Ngọc Thanh vẫn trực tiếp chỉ đạo đấu tranh. Tháng 11-1951, do một tên phản động chỉ điểm, bọn mật thám Pháp đã bắt Đỗ Ngọc Thạnh, chúng tra tân dã man rồi bỏ vào bao bố, liệng xuống sông Sài Gòn. Đỗ Ngọc Thạnh hy sinh ngày 29-11-1951. Theo báo Công an Thành phô'Hồ Chí Minh và qua lòi kể của bà Đỗ Thị Kim Oanh, em gái liệt sĩ Đỗ Ngọc Thạnh cho biết: đổng đội đã tìm thây hài cốt của ông và đem về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Thành phố Hổ Chí Minh. Năm 2000, Đỗ Ngọc Thạnh được truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hoạt động cách mạng của ông đã được tái hiện qua bộ phim tài liệu lịch sử Thành Đoàn thời bí mật.
Để ghi nhớ tấm gương hy sinh anh dũng của Đỗ Ngọc Thạnh, ủy ban nhân dân Thành phố Hổ Chí Minh đã quyết định lây tên ông đặt tên cho một con đường tại quận 5 Thành phố HỔ Chí Minh.
6. Liệt sĩ Lê Đài
Ong nguyên là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phú Yên, sinh năm 1917 tại xã Cảnh Dương. Do sớm giác ngộ cách mạng, năm 22 tuổi, thầy giáo Lê Đài rời quê hưong vào tỉnh Phú Yên dạy học. Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, thầy giáo Lê Đài tham gia cướp chính quyền ở tỉnh lỵ Sông Cẩu, nhận trọng trách chủ nhiệm Việt Minh (tổng Xuân Đài) và sau đó đuợc điều động về tỉnh. Trong chín năm kháng chiến, đổng chí Lê Đài giữ nhiều trọng trách của tỉnh Phú Yên: ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Úy ban hành chính kháng chiến tỉnh phụ trách công tác dân quân, Phó Bí thu Tỉnh ủy kiêm chính ữị viên tỉnh đội Phú Yên. Sau Hiệp định Giơnevơ, tháng 7-1954 Thường vụ khu ủy khu V phân công đồng chí Lê Đài ờ lại miền Nam, tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến, giữ trọng trách bí thư Tỉnh ủy Phú Yên. Trong những ngày đen tối nhất của cách mạng miền Nam, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên Lê Đài cùng vói một số đổng chí được phân công xây dựng, củng cố tổ chức Đảng và các cơ sở cách mạng. Ngày 27-5-1955, trên đường đi công tác tại xã Xuân Lãnh (huyện Đổng Xuân), đổng chí Lê Đài bị địch phát hiện, vây bắt. Đổng chí đã kiên cường chống trả, làm bị thương một sô' tên, nhưng địch quá đông, đổng chí đã bị giặc bắt và biệt giam tại nhà lao Phú Yên. Trong địa ngục trần gian của lao tù Mỹ - Diệm, người cộng sản Lê Đài vân một lòng sắt son với Đảng, trong nanh vuốt của kẻ thù vân kiên trung không chịu đầu hàng. Sau chín tháng bị kẻ thù tra tân bằng những thủ đoạn dã man, đổng chí Lê Đài đã trút hơi thở cuối cùng trong nhà lao Mỹ - Diệm vào ngày 26-10-1956. Đổng chí Lê Đài đã vĩnh viễn ngã xuống, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Nhưng kẻ thù vô cùng thâm độc, đã dựng lên màn kịch vu cáo lập lờ, làm cho người đảng viên cộng sản Lê Đài tiếp tục "hy sinh" 35 năm trong lòng đổng bào đổng chí. Sau này, Tỉnh ủy Phú Yên đã dày công sưu tầm, kiểm tra thông tin, tài liệu trong 10 năm để làm rõ những uẩn khúc về sự hy sinh cao cả của người bí thư Tỉnh ủy và ra quyết định kết luận những vân đề lịch sử liên quan đến đổng chí Lê Đài. Ngày 16-10-1991, Tỉnh ủy Phú Yên long trọng tổ chức lễ tưởng niệm đổng chí Lê Đài - người bí thư Tỉnh ủy đẩu tiên thời kỳ đâu tranh cách mạng chống Mỹ, cứu nưóc, đã hy sinh oanh liệt trong nhà tù Mỹ - Diệm.
Năm 2008, nhân kỷ niệm 52 năm ngày đổng chí Bí thư Tỉnh ủy Lê Đài hy sinh, theo nguyện vọng của nhiều vị lão thành cách mạng ỏ tỉnh Phú Yên, để bày tỏ lòng thành kính tri ân ngưòi cán bộ cách mạng trọn đời vì dân, vì Đảng, tôn vinh một người cộng sản kiên trung, Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định lây tên đổng chí đặt tên cho một con đường ở thành phố Tuy Hòa. (Bài viết được trích dẫn bởi Anh Tài - Cảnh Dương).

Bài viết và biên soạn lại

Giới thiệu xã Cảnh Dương (Phần 5) - Các địa điểm nổi tiếng ở xã Cảnh Dương


Các địa điểm nổi tiếng ở xã Cảnh Dương
1. Đình làng: ở Cảnh Dương có tổng số năm đình: 
  • Đình Lớn: được xây dựng từ năm 1667 (tức 24 năm sau ngày các bậc tiền bối vào định cư). Đình thờ "Đại Càn Nam Hải quận chúa". Người Cảnh Dương xưa đã rước bát hương vị thần trên từ Đền Cờn (Nghệ An), nơi phát nguyện câu chuyện thần tích của Đền Càn Hải (câu chuyện xuất phát từ quan niệm vị thần này hay linh ứng hộ người, nên cư dân miền biên thường lập miêu để thờ).
Hiện tại, đình đang thờ Tổ khai khẩn.
  • Đình Tổ: thờ 19 vị Tổ khai khẩn, lập làng Cảnh Dương.
  • Đình Thánh: thờ Đức Thánh Trần.
  • Đình Quan cư: là nơi đón tiếp các vị đại quan về làng, hiện nay là trụ sở úy ban nhân dân xã.
  • Đình Đụn: nay còn để trống, đình không có nhà mà chỉ là một vùng đất trống, có tám cột đình, bốn to, bốn nhỏ. Tại đây, cứ ngày mùng 3 Tết hằng năm làm Le động mõ, ba năm một lần làm cô chén khao làng.
2. Chùa:
  • Duy nhất chỉ có một chùa, được dựng nên vào năm 1667, cùng thời kỳ với đình Lớn. Chùa dựng ở đầu làng phía tây, cao ráo, tĩnh mịch, gồm hai tòa năm gian, tên gọi là Cảnh Phúc Tự.
3. Am:
  • Chỉ có duy nhất một am ờ đầu làng.
4. Miếu: Cảnh Duơng có 13 miêu, tiêu biểu là:
  • Miếu Ông: thò cá ông voi ở phía đông nam của làng, nhưng do bị chiên ữanh tán phá nên nay không còn. Trước đây, miêu thò bộ xưong cá ông, sau đó quy tập về Nhà Truyền thống xã từ năm 1990. Năm 2007, miêu được chuyên xuôhg Ngư Linh Miếu ỏ phía đông bắc làng, gần cửa lạch Roòn, noi ữưóc đây có Ban Cầu hổn để ngư dân hương khói nơi đầu sông cửa lạch.
  • Miếu Bà: hiện còn ở khu nghĩa địa của làng, gần làng nghề Cảnh Dương. Trước đây, miêu là noi thờ cá bà, sau này môi lần cá voi từ biển trôi dạt vào, dân làng tổ chức chôn cất chu đáo quanh miêu, vì vậy, miêu Bà trở thành nơi thờ chung cá ông, cá bà. Trước đây, lấy ngày rằm tháng 7 tổ chức chèo cạn, lê tế thần cá voi, nay được kết hợp trong lê ra quân đánh bắt hải sản hằng năm, ngày rằm tháng Giêng.
  • Miếu Xóm: có 10 miếu. Miếu Xóm hình thành theo sự phát triển dân cư của làng, nhưng từ năm 1945 trở về trước thì môi xóm có một miếu cụ thể. Đó là các xóm Thượng Tự, Thượng Võ, Trung Đình, Trung Từ, Đông Dương, Đông Cảng, Đông Yên, Đông Hải, Đông Tỉnh, Thượng Giang (Trung Vũ chưa có miếu xóm).
  • Miếu ông Tặng
Các bậc tiền nhân tạo nên đình, chùa, miêu, mạo để giúp cho con người có sức mạnh tâm linh, một nguồn tâm linh trong sáng, nhằm tôn vinh cái thiện, lên án cái ác trong xã hội.
5. Giếng nước:
Cảnh Dương có sáu giêng nước, bao gồm: giếng Trong, giêng Ngoài (giếng Vuông), Giếng Đình (đình Lớn) dùng để cúng lễ, giếng Giữa (phía sau trụ sở ủy ban nhân dân xã hiện nay), giếng Bổ (gần cửa nhà cụ Bổn - thôn Cảnh Thượng hiện nay), giêng Chùa,...
6. Trường Tiểu học Roòn
Trường Tiểu học Cảnh Dương là một trong ba trường học đầu hên của ứnh Quảng Bình, được xây dựng từ năm 1918, do cụ Đô Phú Túc đề xướng, vận động, được viên Công sứ Pháp tại Quảng Bình quyết đinh xây dựng. Trường mang tên trường Tiểu học Pháp - Việt - Roòn (thường gọi là trường Tiểu học Roòn). Trường được xây dựng khang trang, sạch đẹp là nhờ sự đóng góp tiền của, công sức của các nhà hảo tâm như: Cửu Vẹt (Nguyên Quyên), Cửu Dòn (Nguyên Ngoạn), Cửu Lãng (Nguyên Diệt). Trường thu hút học sinh nhiều làng ở ba phủ: Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch. Số đông là học sinh Cảnh Dương và các làng vùng Roòn. Trường tổn tại 27 năm (1918-1945), lúc đầu mở một số lớp ở đình làng.
Cảnh Dương trở thành điểm sáng, nhạy bén trong việc chuyển hướng từ dạy học chữ Hán sang dạy học chữ Quốc ngữ, đổng thòi trường còn thu hút khá nhiều nữ sinh vào học, làm thay đổi quan niệm trọng nam khinh nữ.
Trường ra đời với mục đích đào tạo một lớp công chức phục vụ cho bộ máy thực dân, nhưng về mặt khách quan, nhà trường cũng là nơi đã ươm mầm cách mạng cho thế hệ thanh thiếu niên sau Cách mạng Tháng Tám.
Những đảng viên đầu tiên của Chi bộ Roòn là: Ngô Đình Khiêm, Trần Thị Tính, Nguyễn Ngọc Bơn, Nguyễn Túy đều là học sinh truờng Tiểu học Roòn. Những nhà lãnh đạo chính trị như: Đặng Gia Tất - Thuờng vụ Tỉnh ủy Quảng Bình; Hoàng Đài - Phó Ban Tuyên giáo Trung ương... cũng từng là học sinh của trường.
Ngoài ra, còn có một số nhà khoa học cũng từng học tại trường như: Giáo sư Trần Đình Miên - Tổng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp Việt Nam, có công trình khoa học được giải thưởng Hồ Chí Minh; Giáo sư Nguyễn Đức Lộc - Viện trưởng Viện Sân khâu Việt Nam; Tiến sĩ Nguyễn Đình Tranh - Thứ trưởng Bộ Điện than, người thiết kế công trình thủy điện sông Đà.
Những chị em phụ nữ làm sáng danh cho trường có Trần Thị Xuyến - Đại biểu Quốc hội; Phạm Thị Tuyết, chiến sĩ thi đua năm 1953 - Trưởng Ty Y tế Hà Nam Ninh - Thường vụ Hội Chữ thập đỏ Việt Nam; Trần Thị Tính - Nguyên Vụ trưởng Vụ Mau giáo - Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.
Bênh canh đó, hàng chục cán bộ đầu ngành và ở các vụ, viện, cùng hàng chục cán bộ sĩ quan cao cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng cũng đã có thời kỳ là học sinh trường Tiểu học Roòn.
Qua hai cuộc kháng chiên đã có rất nhiều học sinh trường Tiểu học Roòn trọn đời cống hiến, hy sinh cuộc đời mình cho nền độc lập, tự do của đất nước. Liệt sĩ Nguyễn Liễu vào trường Hổng Đức - Huế học, tham gia đoàn quân Nam tiến, hy sinh ở Nam Bộ; liệt sĩ Đậu Đình là du kích bảo vệ làng trong kháng chiên chống Pháp, hy sinh trận đầu trên đổi Mũi vích; ông Trương Niểu, Chủ tịch xã Hòa Trạch hy sinh trong trận càn năm 1953 giữa lòng đất mẹ Cảnh Dương. Các thầy giáo Lương Duy Khánh, Nguyên Duy Khuyên, Phạm Đình Thảo hy sinh ngày 28-4-1954 trong khi đang dự Hội nghị giáo dục tại Pháp Kệ. Liệt sĩ Lê Đài - Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên, hy sinh trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Liệt sĩ Bùi Đình Túy (Đinh Thuý) - Nhà nhiếp ảnh tài ba - Phó Ban Thông tấn xã Mặt trận giải phóng miền Nam, hy sinh năm 1967.
Quá trình 27 năm xây dựng và phát triển của Trường Tiểu học Roòn có sự đóng góp không nhỏ của các đời hiệu trưởng còn gọi là ông Đốc như: Nguyên Văn Tính - Nghệ An, Nguyễn Đình Cầm - Thừa Thiên Huê, Nguyễn Tri Khiết - Thanh Hóa, Nguyễn Đình Niệm - Nghệ An; cùng đội ngũ thầy giáo tân học lão thành của Cảnh Dương và Quảng Bình như: Đổng Xuân Cát, Nguyên Lược, Nguyễn Đức Hóa, Nguyễn Đình Quán, Lương Duy Tâm, Trần Kháng, Trần Khảng, Nguyễn Ngọc Lơn, Nguyễn Duy Khuyên, Trần Thị Tính, Lê Đài, Nguyễn Đình Tiếu,...

Bài viết và biên soạn lại

Giới thiệu xã Cảnh Dương (Phần 4) - Tổ chức hành chính


Tổ chức hành chính
  • Tổ chức hành chính trong thời kỳ phong kiến:
Thòi kỳ Lê - Trịnh: Cảnh Dương là đơn vị hành chính cơ sở có tư cách pháp nhân, có khuôn triện. Lý trưởng (xã trưởng) là người đứng đầu chính quyền, điều hành bộ máy, sử dụng khuôn ữiện để xác thực văn bản pháp lý.
Các công việc chủ yêu của làng xã được tổ chức thực hiện bằng mệnh lệnh áp đặt, buộc đầu đinh, dân chúng phải chấp hành vô điều kiện.
Cảnh Dương vào những năm 1660-1670 là vùng giáp ranh tranh chấp của các thế lực Trịnh - Nguyễn nên việc củng cố cơ sở hạ tầng chưa có điều kiện ữiêh khai; ngoài phép nước, lệ làng cũng có vai trò quan trọng trực tiếp trong điều hành công tác làng xã, xây dựng quê hương. Nhiều vị tiền khai khẩn và đổng khẩn được cử ra làm quan, xây dựng hương ước để tiếp tục phát triển làng quê.
Hương ước làng gồm tám khoản lệ: về tổ chức bộ máy; về sản xuẩt chài lưới, buôn bán; về thuế khóa, binh dịch; về học hành, thi cử; về hương ẩm, thờ cúng, tế lê; về cảnh quan môi trường; về an ninh thôn xóm; về thuần phong, mỹ tục.
Để điều hành công việc làng theo hương ước, làng chia thành bảy phần cho các dân đinh trong làng gánh vác, sau đó phân ra: bốn phe (1673) và 11 xóm (Trung Đình, Trung Vũ, Trung Tự, Đông Cảng, Đông Yên, Đông Dương, Đông Hải, Đông Tỉnh, Thượng Giang, Thượng Tự, Thượng Vũ). Các phe tổ chức theo dòng họ, xóm, theo cụm dân cư địa lý, chăm lo việc hành chính, là chân rết của bộ máy hành chính xã.
Thực hiện cải lương hương chính được ban hành từ năm 1904, khi chế độ bảo hộ được thiết lập. Tổ chức hương chính có hội đổng kỳ mục xã, đứng đầu là tiên chỉ. Hội đổng kỳ mục mỗi năm họp hai kỳ, có quyền xét duyệt sổ hưong ẩm, dự thảo ngân quỹ, kiểm soát thu chi, xác định số lượng dân đinh, diện tích đất đai phải nộp thuế, diện tích công điền, công thổ, ngân quỹ dành cho việc chi tiêu của xã, đề xuất xây dựng công trình công ích, cho phép dân nơi khác cư ngụ, giói thiệu người ra làm lý trưởng, phó lý, ngũ hương, kiểm soát hoạt động của hội đổng kỳ mục.

Bộ máy điều hành hoạt động cấp xã có lý trưởng, phó lý và ngũ hương. Lý trưởng là người giữ quyền điều hành chính ở xã, thi hành mệnh lệnh của chính quyền cấp trên, thực thi những quyết định của hội đổng kỳ mục, điều hành hoạt động của ngũ hương. Giúp việc cho lý trưởng có phó lý; phó lý điều hành việc làng khi vắng lý ữưởng. Ngũ hương là hương bộ, hương bản, hương kiểm, hương dịch, hương mục.
  • Tổ chức bộ máy và hệ thống chính trị từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay:
Sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, chế độ thực dân phong kiến bị lật đổ. Ủy ban cách mạng lâm thời làng Cảnh Dương được thành lập và ra mắt nhân dân, thực hiện chức năng hành chính, củng cố chính quyền, ủy ban cách mạng lâm thời có chủ tịch ủy ban, phó chủ tịch ủy ban, ủy viên tư pháp, dân sinh quân sự; các chòm có chòm trưởng.
Đầu năm 1946, thực hiện chủ trương bỏ phủ, tổng, lập huyện, xã, thôn, ủy ban cách mạng lâm thời được đổi thành ủy ban hành chính xã, phủ Quảng Trạch đổi thành huyện Quảng Trạch.
Ngày 6-1-1946, tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã diễn ra với sự tham gia của mọi người dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam, nữ, đẳng câp, tôn giáo, dân tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử họ được quyền bầu cử và ứng cử đại biểu Quốc hội (công dân Việt Nam từ 21 tuổi trở lên được quyền ứng cử).
Ngày 17-2-1946, bầu cử Hội đổng nhân dân tỉnh và Hội đổng nhân dân xã đầu tiên được tiên hành thành công tốt đẹp. Các đảng viên tham gia ứng cử đại biểu Hội đổng nhân dân xã đều được tín nhiệm cao. Cơ câu Hội đổng nhân dân có một số đại biểu là đảng viên, số còn lại là quần chúng tiêu biểu của các tầng lớp, các hội.
Tháng 4-1946, Hội đổng nhân dân xã họp phiên đầu tiên để bầu ủy ban hành chính xã. Đây là ủy ban hành chính chính thức do đại biểu Hội đổng nhân dân xã bầu ra để điều hành công cuộc kháng chiên kiến quốc trên địa bàn xã Cảnh Dưong. Cuối năm 1946, ủy ban hành chính kiêm ủy ban kháng chiến được thành lập, sau đó đổi thành ủy ban kháng chiến hành chính xã. ủy ban kháng chiến hành chính xã là cơ quan hành chính gồm năm ủy viên (một chủ tịch, một phó chủ tịch kiêm công an, một ủy viên thư ký kiêm dân sinh, một ủy viên tư pháp và một ủy viên quân sự), có nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thực hiện quyết định của Hội đổng nhân dân xã, thi hành các bản án của tòa án; triệu tập các kỳ họp của Hội đổng nhân dân xã; kiểm soát hoạt động của các bộ phận chuyên môn; giải quyết công việc hành chính hằng ngày; quản lý thu chi ngân sách.
Từ khi Nhà nước chuyển đổi sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế tổn tại bình đẳng trước pháp luật, hợp tác xã ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chuyển đổi theo cơ chế mới, chức năng quản lý xã hội như hợp tác xã cũ không còn, việc quản lý cộng đổng dân cư theo mô hình thôn ra đời. Từ năm 1994, xã Cảnh Dương đã có tám thôn và hai chòm. Đến tháng 6-2003, sáp nhập chòm Đông Yên và chòm Đông Hải thành thôn Yên Hải, đưa tổng số thôn toàn xã lên chín thôn.
Các thôn có trưởng thôn do dân bầu theo quy chế dân chủ. Các thôn lớn theo quy định của tỉnh có phó thôn. Để quản lý thôn thực hiện mô hình cộng đổng dân cư tự quản, các thôn có cử thư ký, thủ quỹ. Khi triêh khai các công trình có đóng góp của dân thì thôn cử ban tự quản giám sát công tác xây dựng theo quy chế dân chủ quy định.
Hệ thống chính trị câp xã gọi là cấp cơ sở. Tổ chức trong hệ thống chính trị bao gồm: Đảng bộ, Hội đổng nhân dân, ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc xã; các đoàn thể chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, gồm: Đoàn Thanh niênHội Liên hiệp thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiên binh, Hội Chữ thập đỏ, Hội Người cao tuổi, Hội Khuyến học. Các tổ chức cơ sở trong hệ thông chính trị có hệ thống các chi hội, tạo mạng lưới từ xã đền cụm dân cư, đơn vị, nhằm tập hợp, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, xây dựng hệ thông chính trị vững manh.

Bài viết và biên soạn lại

Giới thiệu xã Cảnh Dương (Phần 3) - Lịch sử hình thành


Lịch sử hình thành
Lịch sử hình thành xã Cảnh Dương trải qua nhiều thời kỳ và quần tụ ngày càng đông đúc, đa dạng về họ tộc, quá trình nhập cư trong cộng đổng thống nhât, góp phần hun đúc truyền thống yêu nước, cách mạng, truyền thống đoàn kết, kiên cường, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, chịu thương, chịu khó của người dân nơi đây.
·                     Sơ khai: Từ Đông chí năm Quý Mùi (1643) đến mùa Hè năm Quý Tỵ (1653) có 19 vị tiền khai khẩn và đổng khẩn quê ở Cảnh Dương trang, thuộc phủ Đức Quang, huyện Chân Phúc, tỉnh Nghệ An vào lập nghiệp ở xứ Cồn Dưa, cửa biển làng Thuần Thần, thôn Bắc Hà, châu Bố Chính (tức tả ngạn cửa sông Roòn - Quảng Bình ngày nay). Họ kết nghĩa anh em, cùng nhau tạo lưới vó làm nghề đánh cá, lập nên nhà cửa, đào giếng phía đông (gọi là giếng Đông) và cùng cư trú. Qua hơn 12 năm cư trú, lập nghiệp ở xứ Cồn Dưa, các vị tiền khẩn và đổng khẩn cho rằng: "Đất Cồn Dưa nhỏ hẹp không thể lập làm xã hiệu được" . Với vốn sống và tầm nhìn sâu rộng, qua làm ăn tìm hiểu tình hình mọi mặt trên thực địa, các ông đã đổng tâm nhất trí, chọn Lòi Mắm làm noi định cư nên đã khẩn trương đưa ra kế hoạch và nhanh chóng di chuyển từ Cồn Dưa qua Lòi Mắm (tức Cảnh Dương ngày nay). Tháng 2 năm Ất Mùi, tức năm Thịnh Đức thứ ba (1655), các vị cùng nhau di chuyên qua song, dòi đến xứ Lòi Mắm dọc bờ kênh làng Di Phúc, dựng năm ngôi nhà, đào hai giếng để sinh sông, từ đó chung lòng lập nghiệp . Lòi Mắm vốn là địa phận của Di Lộc, lúc đó còn hoang vu, cư dân Di Lộc chủ yêu sống bằng nghề nông nghiệp. Vùng Lòi Mắm không phải đất sản xuất nông nghiệp, mà là quê hương của các loại cây nước mặn, đước, giá, sú, mắm và các loại dã tràng, cua cáy, cùng với cát trắng và ba bề sông biển, không có cư dân sinh sông. Do vậy, vùng Lòi Mắm là địa bàn phù hợp với nghề ngư nghiệp, mở thế làm ăn lâu dài cho cư dân Cảnh Dương theo nghề chài lưới, vận chuyển đường thủy, buôn bán,... Địa danh các xã từ xa xưa với nhiều nguyên nhân khác nhau mà nhiều làng có chữ đầu tiên là "Kẻ" như: làng Di Luân gọi là "Kẻ Phường", làng Phúc Kiều gọi là "Kẻ Roòn", làng Cảnh Dương được gọi là "Kẻ Xã". Sau khi chính thức định cư tại Lòi Mắm, tháng 4 năm Mậu Tuẩt, tức năm Thịnh Đức thứ sáu (1658), các vị tiền bối bao gồm Nguyễn Văn An, Đỗ Phú Thanh, Phạm Khắc Hoành, Trương Văn Pháo, Ngô Cảnh Xuân đổng nhất đặt tên làng là Cảnh Dưong. Như vậy, xã Cảnh Dương được công nhận đơn vị hành chính từ đòi Lê Thần Tông (triều đại Lê - Trịnh) năm Mậu Tuẩl (1658). Tên làng Cảnh Dưong vẫ được giữ từ ngày thành lập đến nay.
·                     Thời kỳ Cách mạng: Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Cảnh Dương thuộc vùng tự do nằm trong chiến khu kháng chiến chống thực dân Pháp vùng Roòn, bắc Quảng Trạch. Tháng 7-1947, thực hiện chủ trương của ủy ban kháng chiến hành chính huyện, xã Cảnh Dương cùng sáp nhập lập xã Hòa Trạch.

Bài viết và biên soạn lại

Giới thiệu xã Cảnh Dương (Phần 2) - Điều kiện xã hội


Điều kiện xã hội
Với một vị trí địa lý thuận lợi có đường thiên lý Bắc - Nam, con sông Roòn nối liền miền ngược với miền xuôi, cửa biển thông ra biển Đông, thuận lợi cho nghề chài lưới, đánh bắt cá, tôm... thuyền bè giao lưu buôn bán, nên người Cảnh Dương từ Cồn Dưa qua Lòi Mắm  khi đền định cư đã nhận thấy đây là một vùng đất sinh lợi, có thể tiếp cận với biển cả để gắn bó lâu dài với biển. Từ đó, người dân Cảnh Dương đã xác định con đường làm ăn sinh sống với các nghề: chài lưói, vận tải biên, buôn bán hàng hóa,...
·                     Nghề nghiệp chủ yếu: Nghề chài lưới là nghề cổ truyền của làng Cảnh Dương, được gọi là "Đại nghề", bỏi lưới là loại ngư cụ có sản lượng đánh bắt lớn, phạm vi hoạt động của lưới rộng, chủ động. Trong nghề lưới gồm có lưới rê, lưới rùng, lưới trủ; lưới rê là nghề chính, được những vị tiền khẩn và đổng khẩn mang theo từ quê cũ khi vào đây lập nghiệp và là nghề chài lưới đầu tiên ở cửa biển lạch Roòn, ỏ Quảng Bình chỉ người Cảnh Dương mới có nghề này. Nghề lưới rê có ữình độ tổ chức cao, quy ước chặt chẽ. Thuở trước, lưới rê chỉ có lưới bả, lưới gai, ngày nay lưới rê phát triển thành nhiều loại: rê khod, rê lộng, lưới ba, lưới tư, lưới cước, lưới ni lông; đánh cá nổi hoặc đánh cá đáy. Cùng nhiều nghề cá mới có năng suât cao như: đánh cá bằng đèn ánh sáng, lưới đánh tôm, lưới đánh mực, lưới vây; với ngư trường được mở rộng gồm hàng trăm thuyền gắn máy, tàu xa bờ đánh bắt cá bôn mùa, đã thu hút số đông lao động chính ở Cảnh Dương. Bằng nhiều phương tiện đánh bắt được cải tiến hiện đại, tàu công suât lớn đi biển dài ngày, mỗi năm Cảnh Dương đánh bắt được hàng nghìn tấn cá, tôm và nhiều đặc sản quý hiếm, làm giàu cho quê hương, đất nước. Ngoài nghề lưới, ở Cảnh Dương còn có nghề câu, nghề này dụng cụ đơn giản, nhưng về mặt kỹ thuật thì đòi hỏi cao hơn mới bắt được cá. Nghề câu có câu tay và câu vàng, câu chằng (loại câu có nhiều lưỡi câu). Nhiều gia đình Cảnh Dương có nghề câu "gia ữuyền" như: câu cá song, cá sủ, vạt ngứa, đom nhoài, chạy rựa, câu mực, dong chổi. Nghề thả bóng là một nghề kỹ thuật, nhử tôm vào rọ để bắt, gồm có "bóng hồng" (cá hổng) và "bóng tôm" (tôm hùm). Hiện nay còn có bóng ốc hương, bóng mực lá. Nghề mành rút là nghề "thả rạo" để nhử cá đến trú ẩn mà bắt, nghề này thường đánh cá vụ Nam. Ngoài ra, các nghề đánh te, lặn ruốc, đi kheo cũng là những nghề truyền thống. Sau năm 1995 có thêm nghề giả tôm cho hiệu quả kinh tế khá cao. Nghê' chế biên nuóc mắm ỏ làng Cảnh Duơng cũng đuợc phát triển rất sớm và nổi tiếng vói hương vị thơm ngon ở miền Trung. Nổi tiếng là danh hiệu nước mắm Hàm Hương, "nước mắm ngự" công vua. Làng nghề nước mắm "Dân biết mặt, nước biết tên" từ buổi ây1. Nước mắm Cảnh Dương đã có mặt từ Phú Xuân (Huê) đền Thăng Long (Hà Nội). Trong những năm đầu thế kỷ XX đến Cách mạng Tháng Tám 1945 là thời kỳ phát đạt của nghề chế biến nước mắm Cảnh Dương, mỗi năm sản xuất khoảng bốn triệu lít nước mắm của hơn 40 nhà chế biên cỡ lớn và vừa   . Với ngư trường có sản lượng cao và có các cửa sông lạch trong vùng là sông Gianh, sông Dinh, sông Nhật Lệ, sông Eo Áng ở Hà Tĩnh, Cảnh Dương có gần 100 hộ chuyên làm nghề chế biến nước mắm, còn phần đông các hộ gia đình ở Cảnh Dương đều có một đêh hai vại nước mắm gia dụng, khi thị trường đòi hỏi cũng pha chế làm hàng hóa đưa ra thị trường trao đổi. Nghề chế biến nước mắm là nghề làm kỹ thuật và thuộc lao động nặng nhọc "vào lò, ra chảo" phải qua nhiều công đoạn; con cá đánh bắt về phải qua ướp muối, dang nắng, nâu, lọc, màu, câ't giữ. Mỗi công đoạn có bí quyết kỹ thuật riêng mới tạo ra thành phẩm cuối cùng, đảm bảo chất lượng, màu sắc hấp dẫn. Nghề chế biến, buôn bán nuớc mắm lớn cần phải có vốn lớn để mua sắm nguyên liệu, phương tiện chế biến, cất giữ, chuyên chở. Đổng thời cũng đòi hỏi có đầu óc kinh doanh, quản lý giỏi. Nghề chế biến, buôn bán hải sản, đặc biệt là nghề chế biến nuớc mắm đã đưa lại nguồn lợi lớn, giúp người dân Cảnh Dương tạo dựng cuộc sống trù phú, giàu có, thịnh vượng. Nhưng trong thời kỳ thực hiện cơ chế tập trung vào các doanh nghiệp quốc doanh đã làm cho nghề chế biến nuớc mắm Cảnh Dương có phần bị mai một. Từ ngày đất nước đổi mói vói việc sản xuất, quản lý, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nghề chế biến nước mắm của làng Cảnh Dương đã được nhiều gia đình phục hổi trở lại. Người dân chài Cảnh Dương coi sông biên là đổng ruộng, nên "đường biển,/ là đặc trưng riêng của cư dân nơi đây. Từ truyền thống "dẫn đường đạo lộ, vận chuyển quân lương" mở ra thêm nghề vận tải thủy cho nhân dân làng biển Cảnh Dương. Trên những con thuyền buồm dáng đóng chắc chắn, có thể chịu được sóng to, gió lớn, thủy thủ Cảnh Dương có mặt khắp các biển, sông, rạch trong Nam, ngoài Bắc. Từ vận tải nhỏ lẻ ở các sông, luồng lạch trong tỉnh, đến khi yêu cầu vận tải trao đổi hàng hóa lớn tăng lên họ đã sáng lập ra vạn thuyền để quản lý điều hành, hỗ trợ, bảo vệ lân nhau khi gặp sóng to, gió lớn. Vạn thuyền ra đời là buớc khẳng định nghề hàng hải của làng Cảnh Dương đã trưởng thành, vươn lên, biết buôn bán đem lại nguồn lợi, sự phồn vinh cho cuộc sông. Chính truyền thông vận tải thủy của ông cha đã rèn luyện nên những thủy thủ tài ba của Cảnh Dương, để cống hiến, đóng góp cho hai cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc đóng và sửa chữa thuyền, ghe là không thể thiếu khi phát triển nghề câu lưới, chế biến, buôn bán nước mắm và vận chuyên vì những nghề đó đều phải dựa vào thuyền, ghe làm phương tiện đi lại, chuyên chở hàng hóa. Đóng và sửa chữa thuyền, ghe trở thành nghề dịch vụ quan trọng. Ghe, thuyền làng biên Cảnh Dương phải đóng nhiều loại, theo chức năng, kích cỡ, trọng tải khác nhau. Với công việc thường xuyên, đại trùng tu ghe, thuyền định kỳ, đóng các loại thuyên như để đi câu, đi lưới, xuồng và các loại công cụ cho các loại ghe, thuyền, nên người đóng ghe, thuyền cần phải có sức khỏe, kỹ thuật, mẹo mực mới có những chiếc ghe, thuyền có dáng vóc phù hợp, chịu đựng được sóng to, gió lớn.

Người Cảnh Dương buổi đầu lập nghề chỉ đóng được thuyền nhỏ phục vụ cho nghề lưới câu. Muốn đóng thuyền lớn từ 30 tấn ữở lên phải mời thợ Hoàng Lao từ Nghệ An về. Qua nhiều đời làm ăn, một số thợ đã định cư, xây dựng gia đình và dần dần trở thành lực lượng đóng thuyền và truyền nghề cho con cháu, bạn bè. Làng biển Cảnh Dương có thêm một nghề không những để một bộ phận dân cư làm ăn, sinh sống mà còn nổi tiếng đóng góp những chiếc thuyên tràng đà phục vụ vận tải lương thực cho đại quân Nguyễn Huệ và những chiếc ghe "sơn đậu" chuyên dụng chuyên chở nước mắm, buôn bán hàng hóa ra Bắc vào Nam. Những đoàn thuyền vận chuyển lương thực, vũ khí đã góp phần vào thắng lợi cho hai cuộc kháng chiên chống Pháp và chống Mỹ, cũng như sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của quê hương, đất nước.

Nghề buôn bán của làng Cảnh Dương khỏi phát từ nghề chê biên nước mắm, nghề vận tải thủy chở hàng vào Nam ra Bắc mà tạo thành. Phụ nữ Cảnh Dương là đội quân chủ lực trong trao đổi, buôn bán, giao lưu hàng hóa ở chợ Hôm của làng cũng như các chợ trong vùng Roòn. Họ là những người đòn gánh đè vai, chắt chiu lưng vốn, tạo lập nghề sinh sông, từ hàng hóa thủy sản tươi sống, chế biên của làng sản xuất, đền các loại hàng hóa nông sản, lâm sản của bà con trong vùng được các chị em Cảnh Dương chịu khó đi các chợ trong huyện vừa bán, vừa mua về trao đổi. Do đó, hàng hóa mua bán tại xã rất đa dạng, phong phú, dễ mua, dễ bán, kể cả các loại hàng bách hóa, hàng xén, các hàng quý hiếm từ Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Huế, có cả hàng từ Sài Gòn, Phú Quốc, Phan Thiết đưa ra.

Từ thập niên 1930, khi giao thông phát triển, một số chị em lại đi buôn hàng chuyến bằng xe ô tô theo các tuyến: Hà Nội - Vinh - Huế - Sài Gòn.

Do đặc điểm kinh tế, điều kiện giao thông thuận lợi, chợ Cảnh Dương phát triển thành chợ trung tâm trao đổi, buôn bán hàng hóa của vùng Roòn, một số xã vùng quốc lộ và vùng giáp Đèo Ngang huyện Kỳ Anh - Hà Tĩnh.

·Dân cư hành chính: Xã Cảnh Dương là một xã có dân cư sống quây quần, đông đúc, đền năm 2000 có 7.744 người, với 1.798 hộ cư trú trong cộng đồng. Gồm chín thôn: Tân Cảnh, Cảnh Thượng, Liên Trung, Trung Vũ, Yên Hải, Đông Cảng, Đông Dương, Đông Tỉnh, Thượng Giang. (Tính đến thời điểm ngày 01/08/2017 có 10000 người, mật độ dân số đạt 5450 người/km²)

Bài viết và biên soạn lại