Sponsors

Giới Thiệu

Showing posts with label Dân chài lưới Cảnh Dương. Show all posts
Showing posts with label Dân chài lưới Cảnh Dương. Show all posts

Thursday, February 22, 2018

Hình ảnh: Bích họa làng biển Cảnh Dương | Du lịch Quảng Bình 2018

Cảnh Dương là “làng bích họa” đầu tiên tại Quảng Bình, đầu năm 2018 những bức tranh 3D đầy sống động và có độ chân thực cao được vẽ lên trên tường nhà người dân. Những bức họa tại đây được thể hiện từ đình Thờ Tổ đến đường ven biển của làng.

Friday, January 5, 2018

Giới thiệu xã Cảnh Dương (Phần 8) - Phong tục sinh hoạt Cảnh Dương


Phong tục sinh hoạt
Người Cảnh Dương tự hào về mảnh đất sông Loan, núi Phượng:
"Sông Loan, núi Phượng hữu tình
Bảng vàng, ấn ngọc, phân minh chầu về"
(Vè Cảnh Dương)
Nhờ ông cha Cảnh Dương có định hướng đúng về làm ăn kinh tế từ những ngày đầu lập làng, cùng với tinh thần lao động cần cù, năng động, sáng tạo của dân làng từ nghề chài lưới, rồi mở mang thêm nghề chế biên hải sản, đặc biệt là nghề chế biến nước mắm, mở rộng giao lưu buôn bán cùng nghề hàng hải, đóng ghe thuyền, nên cuộc sông của người dân Cảnh Dương ngày càng hưng thịnh, ít có những biên cố, thăng trầm lớn.
Biết coi trọng lao động nên lóp ngưòi nào ở Cảnh Dương cũng làm việc rất cần cù, chăm chỉ. Đàn ông vốn chân thuyền, tay lưới, vào lộng, ra khoi, đàn bà đòn gánh đè vai, thức khuya dậy sớm, buôn thúng bán mẹt, cối xay chày đạp; thương gia vào thùng ra chảo, lên xe xuống ngựa, buôn ghe bán mành, cần cù lam lũ. Tầng lớp nho học, trí thức trung thực, nhân đức, thức thời, sớm trở thành tầng lớp học thức có công đức của làng. Đội ngũ thanh niên trai tráng khỏe mạnh, năng động, hiếu học. Đó là những nét đặc trưng xuyên suốt của con người Cảnh Dương, là nguồn động lực cho Cảnh Dương xây dựng làng quê trù phú, có đời sống vật chất, văn hóa tinh thần phong phú, xứng danh là làng quê văn vật.
Tuy làng quê Cảnh Dương không sản xuât nông nghiệp nhưng luôn đầy đủ các loại lương thực, nông sản, ngũ cốc đáp ứng nhu cầu cho nhân dân.
Bữa ăn uống thường ngày của người dân tương đối đạm bạc, nhưng với bàn tay khéo chế biến của chị em phụ nữ nên vân bảo đảm về chất lượng. Những ngày giô, chạp hoặc khi có dịp tiếp khách, với tâm lòng thành cùng kỹ thuật chế biến các hải sản, bữa cô chạp có những món ăn ngon, bổ, quý, khách một lần được thưởng thức thật khó quên.
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, việc ăn độn sắn, khoai đã trở nên quen thuộc trong mỗi gia đình, kể cả trong những gia đình khá giả, trừ người già và trẻ em thì được phần ưu tiên.
Quần, áo mặc hằng ngày của ngưòi dân lao động thường được sản xuât từ các loại vải mòi, vải tám, được mua ở
Đơn Sa, Thuận Bài, Trung Thôn, vải màu trắng được nhuộm nước củ nâu, phơi nắng nhiều thành màu nâu bầm hay nâu non. Độ màu đậm nhạt tùy theo số lượng lần nhuộm nhiều hay ít.
Khi có ngày lễ quan trọng, các bậc chức sắc, trưởng lão, tiên chỉ làng thường mặc áo dài khăn đóng, chị em thanh nữ khá giả, chị em bán hàng xén mặc có phần diện hơn (đầu bịt khăn nhiễu hoặc nhung, xếp thành nếp nhỏ, ngực đeo yếm lụa màu, lưng thắt dải lụa, bên trong áo khách, bên ngoài áo dài, màu sắc tương phản không trùng màu). Đặc biệt, phụ nữ Cảnh Dương lúc bâ'y giờ khi đi ra đường không ai mặc áo khách, họ đều mặc áo dài nhưng lại không gài cúc áo, nếu gài cúc áo dài thì chiếc yếm đào và chiếc áo khách duyên dáng sẽ bị che lâp không tôn lên được vẻ đẹp của họ, yếm chéo trên cổ kiềng dây thắt, phần thân có dây choàng lưng, đáy yếm xéo nhọn dài quá lưng quần che rốn.
Quần vải màu đen trở thành thông dụng đối với phụ nữ, áo dài được nhuộm nâu cũng là sở thích của người lao động, buôn bán. Những người sang hơn, có sở thích ăn diện như thanh niên, chị em bán hàng xén, học sinh chuyên dùng vải "quyến dơ xăng", thường gọi là láng 200 và láng đen "chữ hảo" để may quần áo dài và áo bà ba (áo ngắn, áo khách).
SỐ người mặc âu phục trước Cách mạng Tháng Tám 1945 rất ít. Giáo viên, công chức cũng chỉ mặc áo dài đen bằng vải lương hay xa tanh, quần vải quyến, tóc rẽ, mũ bê-rê hay mũ cối, đi guốc, hãn hữu mới đi giày da hoặc xăng đan.
Ở Cảnh Dương, nhà ở cũng có nhiều loại khác nhau:
Loại nhà ngói kiểu cổ, nhà làm theo kiểu ba gian hai chái, tiền khách hậu chủ, thượng nao hạ táu, mỗi vài có bốn đền năm hàng cột, có bốn hàng cù nối ra mặt hiên được chạm ữổ công phu. Bao quanh nhà là các bức tường đá, san hô, hai bên tả hữu có cửa sổ nhỏ. Nhà mái lợp bằng ngói mâu, đến thập niên 1940 của thế kỷ XX mới dùng ngói "hưng ký". Loại nhà này cũng chỉ chiếm 1/3 số nhà trong làng, thuộc những gia đình quyền quý, giàu có.
Loại nhà gỗ mái tranh có kết câu gần giống loại nhà ngói, chỉ khác ở chỗ đòn tay, rui mè bằng tre, mái lợp tranh, còn cột kèo bằng gỗ. Một mái nhà tranh lợp tốt, đúng kỹ thuật có thể sử dụng được 10 - 15 năm mói phải sửa chữa lại. Trước mặt tiền nơi nước mưa đổ xuống có hệ thống ba hoặc năm tấm rèm thanh nhã, để rèm thẳng đứng che mưa, gió. Tường vách bằng đá san hô hay ữe đan, ván ghép tùy theo kinh tế của gia đình.
Loại nhà này chiếm khoảng 1/3 số nhà trong làng, chủ nhân là gia đình ữung lưu, các nhà nho, hương lý, chủ thuyền nhỏ.
Loại nhà ữanh vách nứa cũng chiếm 1/3 số nhà trong làng, câu tạo đơn sơ bằng tranh, tre, mây, lạt.
Hầu hết các nhà đều có sân và tường bao quanh nhà bằng đá san hô - nguyên liệu chủ yêu ữong xây dựng, đá san hô cũng là nguyên liệu để nung vôi.
Người Cảnh Dương từ Nghệ An vào định cư lập nghiệp ờ Lòi Mắm (thuộc làng Di Phúc - nay là làng Di Lộc, xã Quảng Tùng), mang theo cả vốn liếng văn hóa của một vùng quê nghìn năm lịch sử. Hơn nữa, đó là chiếc cầu nối tiếp nhận, giao thoa văn hóa đàng trong và đàng ngoài trong thế kỷ XVII.
Theo dòng chảy của thòi gian, từ công việc làm ăn, từ ngày lập làng, dựng đất vói các sinh hoạt cộng đổng làng xã, gia đình, người dân Cảnh Dương đã gây dựng cho mình nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa - văn nghệ dân gian mới, đậm đà sắc thái một địa phương miền biển.

Kho tàng văn học dân gian của Cảnh Dương có nhiều thể loại khác nhau như tục ngữ, câu đối, ca dao, hò vè, truyện kể. Trò chơi dân gian truyền thông có boi ữải, đánh cờ người, nâu cơm thi, cơm cần, kéo co, chạy thẻ cưóp cờ, bịt mắt bắt dê, chọi gà, ném vòng cổ chai, ném đầu vịt,...
Ngày nay, phương thức tổ chức những sinh hoạt văn hóa dân gian, trò choi dân gian không còn quy mô với nhiều loại hình như trước, nhưng những câu hò, điệu hát, lòi ru, truyện kể, những trò chơi cổ truyền trong lễ hội của làng theo năm tháng vân còn sức hấp dẫn, đã thâm đâm trong tâm khảm, hóa thành tình yêu quê hương, đất nước từ ông cha cho đến thế hệ con cháu Cảnh Dương ngày nay.
Chèo cạn - hò chèo cạn (hay hò Đức Ông) thường gắn với lễ hội cá Ông voi, cầu ngư, hình thức làn điệu thường giống nhau, chỉ khác nhau về nội dung lời ca.
Chèo cạn là chèo trên bờ, bao giờ cũng có con thuyên tượng trưng. Thuyên dựng bằng tre, cót, giây bổi và được tô vẽ như một con thuyền thật. Dưới con thuyên được bố trí một bộ phận để có thể di động được.

Văn hóa diên xướng dân gian của Cảnh Dương xưa có phường chèo cạn, họ là những người lao động, có chút ít năng khiếu văn nghệ, giọng hát tốt, đội hình gồm từ 8-12 người, do một người cầm trịch đổng thời là người lĩnh xướng lão luyện vê các làn điệu, có năng khiếu sáng tác, ứng khẩu linh hoạt.
Khi diễn xướng sử dụng ba làn điệu: hò khoan, hò hụi, hò ý giao; diên xướng theo động tác lao động chèo thuyên, tay đưa chèo chân nhún nhẩy theo nhịp hò, tạo nên tiết tấu dồn dập, manh mẽ, khỏe khoắn. Điệu hò mang nhip thở của người kéo lưói, cùng lòi xướng của người hò cái và giọng "xô con" của nhiều ngưòi ngân vang làm cho không khí ngày hội thêm náo nhiệt. Chính trong những lần diên xướng như vậy, nhân dân Cảnh Duong đã sáng tạo ra được nhiều làn điệu dân gian phong phú.
Chèo cạn Cảnh Dương là một lễ hội dân gian độc đáo của vùng biển miền Trung. Ngày nay, lê hội chèo cạn có phần mai một, nhưng các làn điệu dân ca và phương thức trình diên của chèo cạn vẫn được nhân dân Cảnh Dương yêu thích. Đội chèo cạn xã Cảnh Dương vân hoạt động, đã từng đi biểu diễn nhiều noi, được Sở Văn hóa - Thông tin Bình - Trị - Thiên cấp bằng khen trong hội diễn văn nghệ dân gian truyền thống năm 1989.
Ớ Cảnh Dương cũng có hò ru con theo thể thơ lục bát, nhưng khác với hò ru con của nhiều làng quê khác ở Bình - Trị - Thiên về tiết tấu và tiếng động, sử dụng các cụm từ "hò hẻ, hò he", "bổng bổng, bổng bông" làm tiếng đệm mở đầu và kết thúc một câu hò. Hò ru con ở Cảnh Dương không ngân dài, nhịp điệu của nó đều đặn nhưng nhanh hơn, bổng bềnh hơn, tựa như cánh võng trưa hè .
Qua câu hò, lời ru ta thây đuợc sự thông minh trong bát vận, đổi ý, các ý tứ gửi gắm trong câu hò, nét dịu dàng trong lời ru điệu hát. Nội dung chủ yêu vân là đề cao trung hiểu, hết, nghĩa; đề cao cái thiện, căm ghét cái ác; đề cao nghĩa cử hào hiệp, khinh ghét kẻ hẹp hòi, ích kỷ; đề cao lòng nhân ái khoan dung, ghét kẻ bất nhân, bất nghĩa, bội bạc, vong ân, vong tình.
Những sinh hoạt dân gian cùng đạo lý sông đẹp, sông cao thượng đã dần vun đắp nên phẩm chất con người Cảnh Dưong. Từ Cách mạng Tháng Tám đến nay, xã Cảnh Dưong đã có những người con, những cán bộ, lãnh đạo đóng góp công sức, trí tuệ góp phần xây dựng, phát triển đất nước, quê hưong.
Với những gì có được hôm nay về dân trí, nhân lực được đào tạo ngày càng cao, nhân tài đang được bổi đắp, Cảnh Dưong đã có thêm nguồn lực mới để vững tin bước vào thời kỳ mới. 
cửa biên Cảnh Dương là căn cứ thủy quân và quân Trịnh. Làng mạc, quân doanh đan xen quân binh, dân làng hòa mục đã góp phần hình thành cốt cách con người ở một vùng quê ven biển có khí phách hiên ngang, chính trực của võ nghiệp; lại có tính cách lịch lãm, thông minh, nền nếp gia phong trong thuận ngoài hòa, có lối ứng xử lễ phép kính trên, nhường dưới và có truyền thống hiếu học. Nhiều người con của vùng đất này đã trưởng thành và đỗ đạt thành tài.
Tiến sĩ Phạm Chan - hiệu Tô Trai, xóm Thượng Tự (xóm Chùa), năm 25 tuổi đã đô đệ tam giáp đổng tiến sĩ xuẩt thân. Khi thực dân Pháp xâm lâín Nam Bộ, ông trân thủ đồn Vĩnh Long, Gia Định. Ngày 25-2-1860, đồn Chí Hòa thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương, tán lý Nguyễn Duy tử trận, án sát Phạm Chân tuẫn tiết, vốn là võ quan nghĩa cử tiết liệt, văn nhân khẳng khái, chính trực, ông là người mở đại khoa cho làng, tên tuổi được các nhà khoa bảng ghi công đầu để các thế hệ sĩ tử trong làng noi theo.
Bài viết và biên soạn lại

Monday, May 9, 2016

Dân chài lưới xã Cảnh Dương

Ảnh: Tác Giả
Xã Cảnh Dương trải dài bên bờ biển. Những người khai khẩn từ bắc Đèo Ngang vào là cư dân cá những làng biển cho nên người dân nơi đây ngay từ đầu lập làng đã sinh sống bàng nghề chài lưới. Biết khai thác nguồn lợi cá biển phục vụ cho đời sống cá mình. Ở một vùng đất mới có thể nói là hoang sơ đến mức nghe:
‘‘Tiếng chim kêu cũng sợ
 cá vẫy vùng cũng kinh”
Vậy mà tổ tiên ta vẫn bám trụ, làm ăn xây dựng nên làng xóm. Từ đời này qua đời khác người dân Cảnh Dương truyền nghề cho nhau làm nên một làng biển trù phú. Người nơi khác đến đây đều cảm nhận được điều này. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, nhạc sĩ Phạm Văn Trừng đã có bài ca ngợi làng chài lưới:
“Cảnh Dương đây xóm làng dân chài lưới
Sống êm đềm bên bờ biển cá bao la
Ngày ngày ra khơi lưới tung mặt nước
Lúc ôn hoàng trở về thôn xa
Khoang cá đầy cá nhà vui ấm no"
Từ cửa biển Cảnh Dương nhìn ra ngoài trùng khơi có một hòn đảo nhỏ cũng gọi là Hòn Ông. Hòn Ông còn có tên gọi khác là hòn Gió mờ ảo trong sóng nước mênh mông cá đại dương. Đảo này liên quan đến một truyền thuyết còn lại đến ngày nay, giúp ta hiểu về mối quan hệ cá cư dân phía nam Đèo Ngang có nguồn gốc từ các địa phương Thanh Nghệ trong các cuộc di dân từ Bắc vào Nam. Sách “Cảnh Dương chí lược” chép: “Thuở trời đất mới tạo lập, vợ chồng thần biển sống yên vui, hạnh phúc. Ngày ngày vợ chồng quăng chài thả lưới, sinh con đàn cháu đống, nào đảo to, đảo nhỏ khắp biển bờ đất nước. Thế mà về sau, thần sinh ra trái tính trái nết, thường cãi vã lẫn nhau. Lúc đầu chỉ nhăn mặt, cau mày, bầu trời u ám. Một hôm thần bồng nổi cơn thịnh nộ, long cây lở cối, sóng nước ầm ầm. Sáng ra người ta thấy cửa nhà thần tan nát. Sập (giường) vắt lên tận cửa Nhượng ở Hà Tĩnh nên người đời gọi là hòn Sập. Rương (cái hòm đựng đồ) vắt lên tận cửa Khẩu nên gọi là hòn Rương (hay là hòn Thanh Dương). Bếp núc vất ở Roòn, còn chén bát nhận chìm ở cửa Nhật Lệ. Mệ (vợ thần biển) bỏ nhà ra tận biển Thanh Hoá - gọi là hòn Mê. Ông (thần biển) ở lại vùng biển này ở tít ngoài khơi nên gọi là hòn ông”. Truyền thuyết giải này thích nguồn gốc tên đảo hòn Ông mà còn giải thích về nguồn gốc các đảo hòm Mê ở Thanh Hoá, hòn Sập, hòn Thanh Dương ở Hà Tĩnh. Ba tỉnh khác nhau nhưng ba hòn đảo có chung một nguồn gốc là gia đình thần biển ở Quảng Bình. Truyền thuyết cũng giúp ta hiểu cư dân miền biển từ lâu đời sống bằng nghề quăng chài thả lưới để kiếm sống.

Ảnh: Phạm Bá Linh
Tỉnh Quảng Bình có bờ biển dài hơn một trăm kilômét từ mũi Đọc ở Đèo Ngang (giáp giới Hà Tĩnh) phía bắc vào đến mũi Lạng ở Cửa Tùng (Quảng Trị) phía nam là bộ phận cuối cá vịnh Bắc Bộ. Nói chung biển Quảng Bình không sâu lắm. Vùng biển phía bắc có nhiều rạn đá san hô ngầm. Là nơi cư trú hết sức thuận lợi cho mọi sinh vật biển sinh sôi nẩy nở. Vì rạn san hô ngầm cũng là nơi tích tụ nhiều thức ăn thích hợp cho chúng. Các mỏm rạn tập trung nhiều thứ cá nhỏ. Ông Trần Đình Vĩnh gọi biển ngoài khơi Cảnh Dương là “biển Cảnh Dương” vì đúng ra từ xưa vùng biển này chủ yếu là người dân Cảnh Dương quanh năm đánh bắt cá được các tác giả sách “Địa chí văn hóa miền biển Quảng Bình” năm 2001 trích lại: “Ở biển Cảnh Dương còn có một cái vũng, thường gọi là vũng Chùa:
Gió bắc thì dựa vũng Chùa
Gió nồm dựa Chụt, bổn mùa như ao
Từ vũng Chùa đi ra có ba hòn đảo, tạo thành một thế chân vạc, một bức bình phong che chắn gió mùa đông bắc cho cá vùng biển phía bắc Cảnh Dương trở ra. Đó là đảo Nồm, đảo Côn và đảo La... Nhìn ra khơi cá biển Cảnh Dương ta thấy một hòn đảo mù tít, đó là hòn Ông. Có nơi gọi là hòn Gió, là bởi nó thường thay hình đổi dạng theo gió nước. Có khi ta nhìn như cái chóp, có khi ta thấy như cỗ xôi, có lúc lại mang hình cái nấm”.
Phía nam Cảnh Dương không có rạn ngầm nên cá từ khơi vào lộng đi thẳng vào bờ làm nên những mẻ cá lớn cho ngư dân. Biển, những ngày trời lặng gió như một bức tranh khổng lồ với màu xanh ngọc bích. Những đợt sóng lăn tăn vỗ bờ rì rào trong nắng. Xa xa bảng lảng những hòn đảo cho chân trời thêm rộng bao la, cho biển thêm huyền ảo. Nhưng những ngày gió to bão lớn biển nổi cuồng phong vô cùng hung giữ. Người vùng biển luôn phải đối mặt với những trạng thái trái ngược cá thế giới tự nhiên. Từ xa xưa Hương ước cá làng đã ghi nhận công việc làm nghề chài lưới và mối quan hệ giữa những người cùng nghề: “Trong làng việc đi biển đánh cá đều theo thứ tự phân định, nếu ai xằng bậy, tham lam, hoành hành bị làng phạt một con heo, giá tiền xưa năm quan. Dân làng theo đó làm ăn, không được giành dựt người ngoài, gây nên sinh sự thì bị xét xử, nếu người ngoài giành dựt đoạn cá thì kẻ cùng thấy biết phải trình xét xử, kiện thưa thế nào thì cá làng cùng chịu, nếu ai ẩn tình suy bì thì kẻ bị hiếp đáp trình làng và theo lệ khoán phạt một con heo, giá tiền xưa ba quan”
Hướng ra biển để sống bao đời nay nên họ biết rất rõ từng vị trí từng ngư trường đánh bắt, từng mỏm núi dế hành trinh, biết đặc điểm thời tiết, từng con nước dể ra khơi vào lộng, sống bàng nghề chài lưới người dân miền biển nhìn thứ gì cũng thấy cá. Dân Cảnh Dương ví rạn ngầm từ cửa sông Ròn trở ra giống như hình dáng con cá chim, đầu rúc vào vũng Chùa, xoè đuôi ra, vào tận đông Bắc cửa sông Gianh. Rạn ngầm có nhiều khối, hình thù, cao thấp từng rạn khác nhau. Chỗ thấp chỗ cao thất thường dặc biệt là khối rạn gần hòn Lố nhiều tầng nhiều lớp tạo nên nơi ẩn nấp cá các luồng cá. Quá trình đánh bắt cá người dân Cảnh Dương phát hiện thời gian nào loài cá nào có nhiều ở vùng nào và đúc kết thành câu thành ngừ: “Tháng tám hòn La, tháng ba hòn Lố”. Trần Đình Vĩnh giải thích: “Tháng tám hòn La tháng ba hòn Lố” là cá quá trình (đánh bắt cũng như thời gian xuất hiện). Tháng chạp, tháng giêng cá thu, cá ngừ, cá chôi rong chơi. Tháng hai tháng ba rêu mọc, khu rạn ngầm như trải đệm theo mùa. Cá thu, cá dưa, cá hàm hương, một loại đặc sản truyền thống. Tháng năm, tháng sau cá chuồn đẻ trứng. Tháng bảy, tháng tám cá chò vỏ, cá róc bà béo ngậy. Còn tôm hùm, còn mực ống, còn hải sâm... mùa nào thức ấy”.

Ảnh: Phạm Bá Linh
Sống với biển người dân Cảnh Dương thuộc từng mỏm núi làm tiêu cho mình trong cuộc hành trình hết ngày này qua tháng khác hết mùa này sang mùa khác. Từ xa xưa khi chưa có la bàn thì những mỏm núi giúp họ tìm ra phương hướng đến với những ngư trường quen thuộc. “Nhật trình đi biển” là bài vè tổng kết kinh nghiệm được truyền tụng trong dân gian:
Lạch Ròn sóng vỗ chan hoà
Nghe thuyền tấp nập đậm đà quê hương
Nào ai xuôi ngược dặm trường
Nhật trình mới dặn yêu thương dãi bày.
Anh em buồm lái lèo mây
Xem trời lấy nước, tốt trời thì ra
Gió tây ba cánh chan hoà
Trông ra khơi từ đó hòn Ông
Ngoài hòn Ông, trong là hòn Lố
Ngàn Hoành Sơn lồ lộ cao phong
Chạy ngang ngọn núi đứng trông
Kênh hàn ngó Chỗ, mũi Rồng xê ra
Vũng Chùa cho ấy đã qua
Màu xanh xanh ngắt hòn La đã gần
Ngoài hòn La trong thì hòn Cở
Đền mũi Ông đã rỗ lung linh
Nước triều chảy xiết tháng kênh
Vĩnh Sơn cát trắng quyện tình sao quên
Chạy qua ngoái lại đứng nhìn
Kìa hòn núi Đọc nằm bên Quán Bò
Sống bằng nghề chài lưới bao đời người dân miền biển gần gũi với các loài cá, thuộc tính nết, nhớ đặc điểm cá từng loại cá. Tên của các loài cá gần với tâm tư tình cảm, đời sống cá người lao động. “Vè con cá” diễn tả thật sinh động, thật gần gũi thân thưong cá con người với các loài cá. Biết đặc tính cá từng loài, đặt cho nó những cái tên gần với đời sống sinh hoạt cá con người:
Cá biển có bầy là con cá đục
Cắt ra nhiều khúc là con cá chình
Trai gái rập rình là con cá he
Chồng nói vợ nghe là con cá mác
Chung tiền đánh bạc là con cá cờ
Tối ngủ hay sờ là con cá ngứa
Ngày ăn hai bữa là con cá cơm
Ăn chẳng kịp đơm là con cú hấp
Rủ nhau lên dốc là con cá leo
Miệng thở phì phèo là con cá đuối
 Nhọn mồm nhọn mũi là con cá déc
 Nấu ra nhão nhẹt là con cá khoai
Hay ăn trộn ngoài là con cá nhảm
 Ngồi chờ chúng hạn là con cá cằn
Già rụng hêt răng là con cá móm
 Bộ đi lọm khọm là con cá bò
 An chủng biết no là con cá nốc
Có gai trên óc là con cá ngạnh
Có hai cái cánh là con cá chuồn
 Rủ nhau vào buồng là con cá ngộ...


Về tên gọi các loài cá có thế từng vùng miền, địa phương khác nhau nhưng điều người dân biển Bắc nhở nhau là tình yêu với nghề biển gắn bó chăm chỉ làm ăn thì nghề không phụ:
Đi khơi về lộng
Tôm cá còn nhiều Nghề biển đáng yêu
Chăm làm sẽ sống.

Tổng kết từ bao đời sự hiểu biết về thế giới biển, người dân Cảnh Dương chế tạo ra nhiều loại lưới, nhiều cách câu và nhiều cách đánh bắt các loại hải sản khác nhau suốt năm này qua năm khác để nuôi sống gia đình và cung cấp cho các địa phương xung quanh.
Nguồn: Văn hóa xã Cảnh Dương