Sponsors

Giới Thiệu

Showing posts with label Tác giả. Show all posts
Showing posts with label Tác giả. Show all posts

Tuesday, January 9, 2018

[SÁCH] KỂ CHUYỆN LÀNG BIỂN CẢNH DƯƠNG


Cảnh Dương nhân kiệt nặng tình thương

Bên giải Loan giang, núi Phượng hoàng
 
Gió biển vi vu bờ cát trắng
 
Địa linh "VẠN CỔ THỬ GIAN SAN"

 



☞  Bạn có thể tham khảo cuốn sách: "Kể chuyện Làng biển Cảnh Dương" tại đường Link phía bên dưới:
http://www.mediafire.com/file/6qrp0g8j85zs7nd/Ke_chuyen_lang_bien_Canh_Duong.rar

Video sách:

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ:
 

Friday, January 5, 2018

Giới thiệu xã Cảnh Dương (Phần 9) - Con người Cảnh Dương bình dị, chất phát


Con người Cảnh Dương bình dị, chất phát
Cảnh Dương là vùng đất trải qua hàng trăm năm chinh chiến trận mạc trong cuộc phản tranh giữa hai tập đoàn phong kiên Trịnh - Nguyễn nằm trên hữu ngạn sông Roòn, cách sông Gianh 20 km, là trung tâm khu tiền tiêu trong một hệ thống đồn lũy liên hoàn của chúa Trịnh, là trạm liên lạc lớn nhâl nối giữa tiền tuyến và hậu phưong. Sông Roòn là yết hầu con đường thủy chiến, con đường vận chuyên quân lưong từ Hà Tĩnh vào Bố Chính. Quân Trịnh đã đào con kênh Xuân Hưng nối liền sông Roòn vói sông Gianh.
Một làng quê hiểu học, vói 77 vị tú tài, cử nhân, hên sĩ, đã làm rạng danh đất có nếp văn chuông. Có gia đình như gia đình khoa bảng Phạm Công Bình với ba đời có bốn vị làm quan. Nhiều người khi thôi chốn quan trường, về quê mở hưong trường để khai trí, khai tâm cho lớp người bước vào thế kỷ XX - một thế kỷ đầy biến động.
Truyền thống yêu nước của nhân dân Cảnh Dưoug còn thể hiện trong ý chí quật cường trước thiên tai, địch họa, tinh thần cần cù, chịu thưong chịu khó đã khai phá, cải tạo vùng đầm lầy thành làng quê ven biển trù phú.
Truyền thống yêu nuớc và sự nghiệp cách mạng của một làng quê trên đuờng thiên lý, bên bờ sông Loan - núi Phuợng đuợc hun đúc, nuôi duỡng từ trong mạch nguồn lịch sử.
Lòng yêu nuớc, tình đoàn kết của nhân dân Cảnh Duong không ngừng đuợc phát huy theo năm tháng. Từ phong trào cải cách huong chính, phong trào Đông Kinh nghĩa thục, phong trào canh tân quốc ngữ, những tu tuảng tiến bộ nhu làn gió mói thắp sáng những con tim tràn đầy nhiệt huyết, những nhân sĩ, thầy giáo, những công chức nghèo yêu nuóc của Cảnh Duong vào thập niên 1930; đến thòi kỳ chuẩn bị tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, họ đã giác ngộ và trỏ thành đội ngũ cốt cán cho phong trào cách mạng, xây dựng lực luạng nòng cốt trong làng xã, tổng. Tiêu biểu là nhân sĩ Ngô Hoàng cùng các con, những công chức nghèo Nguyễn Ngọc Bon, Nguyễn Đình Viên, Ngô Đình Khiêm (Ngô Khiêm), Trần Thị Tính... tích cực vận động tập kết lực lượng chuẩn bị khỏi nghĩa lật đổ chính quyền phong kiên ở làng Cảnh Dưong và tổng Thuận Hòa. Khí thế nhân dân hướng về cách mạng đã bừng lên ý chí quật cường của nhân dân Cảnh Dưong, nhân dân trong vùng và cả phủ Quảng Trạch, hòa chung khí thế cùng cả tỉnh theo Việt Minh, theo Bác Hổ đứng lên giành độc lập, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nối tiếp truyền thống Cách mạng Tháng Tám, nhân dân các làng trong vùng dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, của huyện đã xây dựng chế độ mới dân chủ cộng hòa  độc lập, tự do để mưu cầu hạnh phúc.

Tháng 9-1945, Phủ ủy Quảng Trạch chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Minh khu vực Roòn. Ngày 7-8-1946, thành lập chi bộ khu vực Roòn.
Kháng chiên toàn quốc bùng nổ, thực dân Pháp đổ bộ đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Bình. Ngày 27-3-1947, cùng với cả huyện, Cảnh Duơng sơ tán triệt để để bảo toàn lực lượng, dùng kế "vườn không nhà trông" để chống Pháp lâu dài. Du kích Cảnh Dương đào hầm, hào trong làng, trên bờ biên nhằm theo dõi bước đi của tàu giặc trên biên. Hàng trăm thanh niên Cảnh Dương lên chiến khu tham gia kháng chiến.
Giặc Pháp âm mưu ữiệt hạ làng Cảnh Dương nhưng nhân dân đã rào làng chiên đâu, dựa vào thành lũy kiên cố, bằng tinh thần dũng cảm "quyết tử giữ làng", với 120 trận chiên đâu lớn nhỏ đã chặn đứng địch không cho chiêm làng.
Trong chín năm kháng chiên chống thực dân Pháp ác liệt và gian khổ, đã xuâ't hiện những tâm gương anh hùng bất tử vói núi sông, được Tổ quốc ghi công, đó là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Ngọc Thạnh; đó là 110 liệt sĩ đã hy sinh thân mình cho cuộc kháng chiên và hàng trăm thương binh, gia đình có công khác. Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Cảnh Dương bước vào thực hiện cải cách ruộng đất, thực hiện sửa sai. Sau sửa sai, người Cảnh Dương lại vững tin, bền lòng theo Đảng, hăng hái xây dựng hợp tác xã, say sưa bám biển đánh bắt để nâng cao sản lượng, cải thiện đời sống.
Trong kháng chiên chống Mỹ, cứu nước, Cảnh Dương nằm ờ vùng ữọng điểm. Người Cảnh Dương nêu gương bám trụ "một tấc không đi, một ly không ròi", "tay chèo tay súng, tay 1 ưới tay súng". Trung đội trực chiến của xã ngày đêm bám sát trận địa, nhìn thẳng quân thù mà bắn, đã bắn rơi ba máy bay Mỹ, chị em đội nữ trực chiến cũng đóng góp trong chiến công ây (bắn rơi chiếc F4) và vinh dự đuợc Bác Hổ gửi tặng huy hiệu của Nguời. Duới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân xã Cảnh Duong trong những năm kháng chiến chống Mỹ luôn phân đâu "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một nguời".
Tính đến năm 2000, Cảnh Duơng có 247 liệt sĩ hy sinh trên các chiến truờng, trong kháng chiến chống Pháp có 110 liệt sĩ, kháng chiến chống Mỹ có 123 liệt sĩ, bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc có 14 liệt sĩ, có 98 thương binh và bệnh binh cống hiến một phần xương máu cho Tổ quốc. Toàn xã có 23 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Niềm vinh dự lớn lao là quê hương anh hùng có những người con được rèn luyện, học tập và trưởng thành. Qua hai cuộc kháng chiên, Cảnh Dương có tám cán bộ câp cao ữong quân đội, cung cấp nguồn cán bộ hàng chục người cho cơ quan Trung ương, lãnh đạo cấp tỉnh, câp huyện. Cảnh Dương xứng danh là vùng đất địa linh nhân kiệt. Truyền thống văn hóa - lịch sử, truyền thống cách mạng anh hùng là nguồn lực to lớn để xã Cảnh Dương vững tin bước vào thời kỳ đẩy manh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì dân giàu, nước manh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Từ bãi cát, cồn đất, đầm lầy sông nước, người Cảnh Dương bao đời kiên cường bám trụ đã viết nên những ữang sử hào hùng, với những khẩu hiệu bất diệt "quyết tử giữ làng", "một tấc không đi, một ly không rời", "tay chèo tay súng, tay lưói tay súng", người Cảnh Dương đã không ngừng vươn lên, dũng cảm, sáng tạo, kiên cường, bất khuất, làm nên những truyền thống lịch sử, văn hóa. Những trận chiến đâu chống càn giặc Pháp của quân và dân làng Cảnh Dương; trận địa pháo 12 ly 7 của những cô gái dũng cảm trong trung đội dân quân, đội vận tải VT5 của nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân Cảnh Dương trong kháng chiến chống Mỹ đã làm nên chiến công vang dội trong phong trào "Hai giỏi". Những con người đi vào lịch sử dân tộc và quê hương như: án sát Phạm Chân, Anh hùng liệt sĩ Đỗ Ngọc Thạnh, Bùi Đình Tuý, Lê Đài - người đảng viên sống chiến đâ'u vì lợi ích cách mạng, giữ vững khí tiết của người cộng sản cho đền hoi thở cuối cùng, cùng với hàng nghìn người dân Cảnh Dương qua bao thế hệ đã làm nên truyền thông danh hương Cảnh Dương trong "Son - Hà - Cảnh - Thổ" xưa và truyền thống anh hùng mà Đảng, Nhà nước phong tặng cho nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân Cảnh Dương trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
Truyền thống đó, nguồn lực con ngưòi đó là nguồn sức mạnh to lớn để quê hương và con ngưòi Cảnh Dương vững vàng đi lên trong thời kỳ đổi mói, đẩy manh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Bài viết và biên soạn lại

Giới thiệu xã Cảnh Dương (Phần 8) - Phong tục sinh hoạt Cảnh Dương


Phong tục sinh hoạt
Người Cảnh Dương tự hào về mảnh đất sông Loan, núi Phượng:
"Sông Loan, núi Phượng hữu tình
Bảng vàng, ấn ngọc, phân minh chầu về"
(Vè Cảnh Dương)
Nhờ ông cha Cảnh Dương có định hướng đúng về làm ăn kinh tế từ những ngày đầu lập làng, cùng với tinh thần lao động cần cù, năng động, sáng tạo của dân làng từ nghề chài lưới, rồi mở mang thêm nghề chế biên hải sản, đặc biệt là nghề chế biến nước mắm, mở rộng giao lưu buôn bán cùng nghề hàng hải, đóng ghe thuyền, nên cuộc sông của người dân Cảnh Dương ngày càng hưng thịnh, ít có những biên cố, thăng trầm lớn.
Biết coi trọng lao động nên lóp ngưòi nào ở Cảnh Dương cũng làm việc rất cần cù, chăm chỉ. Đàn ông vốn chân thuyền, tay lưới, vào lộng, ra khoi, đàn bà đòn gánh đè vai, thức khuya dậy sớm, buôn thúng bán mẹt, cối xay chày đạp; thương gia vào thùng ra chảo, lên xe xuống ngựa, buôn ghe bán mành, cần cù lam lũ. Tầng lớp nho học, trí thức trung thực, nhân đức, thức thời, sớm trở thành tầng lớp học thức có công đức của làng. Đội ngũ thanh niên trai tráng khỏe mạnh, năng động, hiếu học. Đó là những nét đặc trưng xuyên suốt của con người Cảnh Dương, là nguồn động lực cho Cảnh Dương xây dựng làng quê trù phú, có đời sống vật chất, văn hóa tinh thần phong phú, xứng danh là làng quê văn vật.
Tuy làng quê Cảnh Dương không sản xuât nông nghiệp nhưng luôn đầy đủ các loại lương thực, nông sản, ngũ cốc đáp ứng nhu cầu cho nhân dân.
Bữa ăn uống thường ngày của người dân tương đối đạm bạc, nhưng với bàn tay khéo chế biến của chị em phụ nữ nên vân bảo đảm về chất lượng. Những ngày giô, chạp hoặc khi có dịp tiếp khách, với tâm lòng thành cùng kỹ thuật chế biến các hải sản, bữa cô chạp có những món ăn ngon, bổ, quý, khách một lần được thưởng thức thật khó quên.
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, việc ăn độn sắn, khoai đã trở nên quen thuộc trong mỗi gia đình, kể cả trong những gia đình khá giả, trừ người già và trẻ em thì được phần ưu tiên.
Quần, áo mặc hằng ngày của ngưòi dân lao động thường được sản xuât từ các loại vải mòi, vải tám, được mua ở
Đơn Sa, Thuận Bài, Trung Thôn, vải màu trắng được nhuộm nước củ nâu, phơi nắng nhiều thành màu nâu bầm hay nâu non. Độ màu đậm nhạt tùy theo số lượng lần nhuộm nhiều hay ít.
Khi có ngày lễ quan trọng, các bậc chức sắc, trưởng lão, tiên chỉ làng thường mặc áo dài khăn đóng, chị em thanh nữ khá giả, chị em bán hàng xén mặc có phần diện hơn (đầu bịt khăn nhiễu hoặc nhung, xếp thành nếp nhỏ, ngực đeo yếm lụa màu, lưng thắt dải lụa, bên trong áo khách, bên ngoài áo dài, màu sắc tương phản không trùng màu). Đặc biệt, phụ nữ Cảnh Dương lúc bâ'y giờ khi đi ra đường không ai mặc áo khách, họ đều mặc áo dài nhưng lại không gài cúc áo, nếu gài cúc áo dài thì chiếc yếm đào và chiếc áo khách duyên dáng sẽ bị che lâp không tôn lên được vẻ đẹp của họ, yếm chéo trên cổ kiềng dây thắt, phần thân có dây choàng lưng, đáy yếm xéo nhọn dài quá lưng quần che rốn.
Quần vải màu đen trở thành thông dụng đối với phụ nữ, áo dài được nhuộm nâu cũng là sở thích của người lao động, buôn bán. Những người sang hơn, có sở thích ăn diện như thanh niên, chị em bán hàng xén, học sinh chuyên dùng vải "quyến dơ xăng", thường gọi là láng 200 và láng đen "chữ hảo" để may quần áo dài và áo bà ba (áo ngắn, áo khách).
SỐ người mặc âu phục trước Cách mạng Tháng Tám 1945 rất ít. Giáo viên, công chức cũng chỉ mặc áo dài đen bằng vải lương hay xa tanh, quần vải quyến, tóc rẽ, mũ bê-rê hay mũ cối, đi guốc, hãn hữu mới đi giày da hoặc xăng đan.
Ở Cảnh Dương, nhà ở cũng có nhiều loại khác nhau:
Loại nhà ngói kiểu cổ, nhà làm theo kiểu ba gian hai chái, tiền khách hậu chủ, thượng nao hạ táu, mỗi vài có bốn đền năm hàng cột, có bốn hàng cù nối ra mặt hiên được chạm ữổ công phu. Bao quanh nhà là các bức tường đá, san hô, hai bên tả hữu có cửa sổ nhỏ. Nhà mái lợp bằng ngói mâu, đến thập niên 1940 của thế kỷ XX mới dùng ngói "hưng ký". Loại nhà này cũng chỉ chiếm 1/3 số nhà trong làng, thuộc những gia đình quyền quý, giàu có.
Loại nhà gỗ mái tranh có kết câu gần giống loại nhà ngói, chỉ khác ở chỗ đòn tay, rui mè bằng tre, mái lợp tranh, còn cột kèo bằng gỗ. Một mái nhà tranh lợp tốt, đúng kỹ thuật có thể sử dụng được 10 - 15 năm mói phải sửa chữa lại. Trước mặt tiền nơi nước mưa đổ xuống có hệ thống ba hoặc năm tấm rèm thanh nhã, để rèm thẳng đứng che mưa, gió. Tường vách bằng đá san hô hay ữe đan, ván ghép tùy theo kinh tế của gia đình.
Loại nhà này chiếm khoảng 1/3 số nhà trong làng, chủ nhân là gia đình ữung lưu, các nhà nho, hương lý, chủ thuyền nhỏ.
Loại nhà ữanh vách nứa cũng chiếm 1/3 số nhà trong làng, câu tạo đơn sơ bằng tranh, tre, mây, lạt.
Hầu hết các nhà đều có sân và tường bao quanh nhà bằng đá san hô - nguyên liệu chủ yêu ữong xây dựng, đá san hô cũng là nguyên liệu để nung vôi.
Người Cảnh Dương từ Nghệ An vào định cư lập nghiệp ờ Lòi Mắm (thuộc làng Di Phúc - nay là làng Di Lộc, xã Quảng Tùng), mang theo cả vốn liếng văn hóa của một vùng quê nghìn năm lịch sử. Hơn nữa, đó là chiếc cầu nối tiếp nhận, giao thoa văn hóa đàng trong và đàng ngoài trong thế kỷ XVII.
Theo dòng chảy của thòi gian, từ công việc làm ăn, từ ngày lập làng, dựng đất vói các sinh hoạt cộng đổng làng xã, gia đình, người dân Cảnh Dương đã gây dựng cho mình nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa - văn nghệ dân gian mới, đậm đà sắc thái một địa phương miền biển.

Kho tàng văn học dân gian của Cảnh Dương có nhiều thể loại khác nhau như tục ngữ, câu đối, ca dao, hò vè, truyện kể. Trò chơi dân gian truyền thông có boi ữải, đánh cờ người, nâu cơm thi, cơm cần, kéo co, chạy thẻ cưóp cờ, bịt mắt bắt dê, chọi gà, ném vòng cổ chai, ném đầu vịt,...
Ngày nay, phương thức tổ chức những sinh hoạt văn hóa dân gian, trò choi dân gian không còn quy mô với nhiều loại hình như trước, nhưng những câu hò, điệu hát, lòi ru, truyện kể, những trò chơi cổ truyền trong lễ hội của làng theo năm tháng vân còn sức hấp dẫn, đã thâm đâm trong tâm khảm, hóa thành tình yêu quê hương, đất nước từ ông cha cho đến thế hệ con cháu Cảnh Dương ngày nay.
Chèo cạn - hò chèo cạn (hay hò Đức Ông) thường gắn với lễ hội cá Ông voi, cầu ngư, hình thức làn điệu thường giống nhau, chỉ khác nhau về nội dung lời ca.
Chèo cạn là chèo trên bờ, bao giờ cũng có con thuyên tượng trưng. Thuyên dựng bằng tre, cót, giây bổi và được tô vẽ như một con thuyền thật. Dưới con thuyên được bố trí một bộ phận để có thể di động được.

Văn hóa diên xướng dân gian của Cảnh Dương xưa có phường chèo cạn, họ là những người lao động, có chút ít năng khiếu văn nghệ, giọng hát tốt, đội hình gồm từ 8-12 người, do một người cầm trịch đổng thời là người lĩnh xướng lão luyện vê các làn điệu, có năng khiếu sáng tác, ứng khẩu linh hoạt.
Khi diễn xướng sử dụng ba làn điệu: hò khoan, hò hụi, hò ý giao; diên xướng theo động tác lao động chèo thuyên, tay đưa chèo chân nhún nhẩy theo nhịp hò, tạo nên tiết tấu dồn dập, manh mẽ, khỏe khoắn. Điệu hò mang nhip thở của người kéo lưói, cùng lòi xướng của người hò cái và giọng "xô con" của nhiều ngưòi ngân vang làm cho không khí ngày hội thêm náo nhiệt. Chính trong những lần diên xướng như vậy, nhân dân Cảnh Duong đã sáng tạo ra được nhiều làn điệu dân gian phong phú.
Chèo cạn Cảnh Dương là một lễ hội dân gian độc đáo của vùng biển miền Trung. Ngày nay, lê hội chèo cạn có phần mai một, nhưng các làn điệu dân ca và phương thức trình diên của chèo cạn vẫn được nhân dân Cảnh Dương yêu thích. Đội chèo cạn xã Cảnh Dương vân hoạt động, đã từng đi biểu diễn nhiều noi, được Sở Văn hóa - Thông tin Bình - Trị - Thiên cấp bằng khen trong hội diễn văn nghệ dân gian truyền thống năm 1989.
Ớ Cảnh Dương cũng có hò ru con theo thể thơ lục bát, nhưng khác với hò ru con của nhiều làng quê khác ở Bình - Trị - Thiên về tiết tấu và tiếng động, sử dụng các cụm từ "hò hẻ, hò he", "bổng bổng, bổng bông" làm tiếng đệm mở đầu và kết thúc một câu hò. Hò ru con ở Cảnh Dương không ngân dài, nhịp điệu của nó đều đặn nhưng nhanh hơn, bổng bềnh hơn, tựa như cánh võng trưa hè .
Qua câu hò, lời ru ta thây đuợc sự thông minh trong bát vận, đổi ý, các ý tứ gửi gắm trong câu hò, nét dịu dàng trong lời ru điệu hát. Nội dung chủ yêu vân là đề cao trung hiểu, hết, nghĩa; đề cao cái thiện, căm ghét cái ác; đề cao nghĩa cử hào hiệp, khinh ghét kẻ hẹp hòi, ích kỷ; đề cao lòng nhân ái khoan dung, ghét kẻ bất nhân, bất nghĩa, bội bạc, vong ân, vong tình.
Những sinh hoạt dân gian cùng đạo lý sông đẹp, sông cao thượng đã dần vun đắp nên phẩm chất con người Cảnh Dưong. Từ Cách mạng Tháng Tám đến nay, xã Cảnh Dưong đã có những người con, những cán bộ, lãnh đạo đóng góp công sức, trí tuệ góp phần xây dựng, phát triển đất nước, quê hưong.
Với những gì có được hôm nay về dân trí, nhân lực được đào tạo ngày càng cao, nhân tài đang được bổi đắp, Cảnh Dưong đã có thêm nguồn lực mới để vững tin bước vào thời kỳ mới. 
cửa biên Cảnh Dương là căn cứ thủy quân và quân Trịnh. Làng mạc, quân doanh đan xen quân binh, dân làng hòa mục đã góp phần hình thành cốt cách con người ở một vùng quê ven biển có khí phách hiên ngang, chính trực của võ nghiệp; lại có tính cách lịch lãm, thông minh, nền nếp gia phong trong thuận ngoài hòa, có lối ứng xử lễ phép kính trên, nhường dưới và có truyền thống hiếu học. Nhiều người con của vùng đất này đã trưởng thành và đỗ đạt thành tài.
Tiến sĩ Phạm Chan - hiệu Tô Trai, xóm Thượng Tự (xóm Chùa), năm 25 tuổi đã đô đệ tam giáp đổng tiến sĩ xuẩt thân. Khi thực dân Pháp xâm lâín Nam Bộ, ông trân thủ đồn Vĩnh Long, Gia Định. Ngày 25-2-1860, đồn Chí Hòa thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương, tán lý Nguyễn Duy tử trận, án sát Phạm Chân tuẫn tiết, vốn là võ quan nghĩa cử tiết liệt, văn nhân khẳng khái, chính trực, ông là người mở đại khoa cho làng, tên tuổi được các nhà khoa bảng ghi công đầu để các thế hệ sĩ tử trong làng noi theo.
Bài viết và biên soạn lại

Giới thiệu xã Cảnh Dương (Phần 7) - Phong tục tập quán


Phong tục tập quán
1. Phong tục lễ tết
Những phong tục tập quán tế lễ, hội hè, cưới hỏi, ma chay ở làng Cảnh Dưong vôh có từ lâu đời. Làng có truyền thông sinh hoạt ăn ở nền nếp. Thôn, xóm dân cư đông đúc nhưng nhà cửa, lối xóm, đường thôn được xây dựng quy củ, sạch sẽ, tạo đường nét văn minh từ ngày lập làng và phát triển đền ngày nay.
Đời sông văn hóa các xóm, thôn của xã Cảnh Dưong rất phong phú, đa dạng và mang đậm bản sắc của một vùng quê. Phong tục tập quán thờ cúng, tế lễ, hội hè, ma chay, cưới xin, cách ứng xử, giao tiếp và nhiều nét đẹp khác đã tác động sâu sắc tới đời sống tinh thần của mỗi người dân Cảnh Dương cho dù họ sinh sống ở đâu. Tế lễ là một tín ngưỡng thờ thần linh mang tính cộng đổng, nhằm bày tỏ lòng tri ân và cầu mong điều tốt lành trong cuộc sống.
Một năm có nhiều lễ tiết, nhưng Tết Nguyên đán đầu năm giữ vị ữí quan trọng nhâ't, sau đó là các lễ tiết khác như Thượng nguyên (15 tháng Giêng), Đoan Ngọ (5 tháng 5), Trung nguyên (15 tháng 7), Hạ nguyên (15 tháng 10).
Trong ba ngày Tết Nguyên đán lại có những lễ có vị trí và ý nghĩa khác nhau:
Lễ thượng nêu vào ngày 30 tháng Chạp, ngày cuối cùng của năm âm lịch và hạ nêu ngày 7 tháng Giêng (ngày nay đon giản chỉ thường từ ngày 30 tháng Chạp đên mồng 3 tháng Giêng).
Lì tất niên vào chiều 30 Tết, là buổi tụ họp gia đình sau một năm cần cù lao động, những người đi làm ăn xa cũng về trước lễ trừ tịch để chung vui cùng gia đình mình.
Trong những ngày Tết đầu năm, mọi người đều tự nhận thức được ý nghĩa sâu xa: "Hội tụ đoàn viên, gắn bó tình cảm họ tộc, cộng đổng làng xóm, ngày lành tháng tốt, xóa bỏ đi những giận hờn, cãi vã và hiềm khích". Đó chính là sợi chỉ đỏ về ý nghĩa nhân văn đạo đức của ngày Tết.
Đêm 30 Tết, ở các đình chùa, miêu tự đều có lễ dâng hương thành kính. Đình Thành Hoàng, đình Tổ là nơi tổ chức các lê, quy tụ các tầng lớp dân cư đền tưởng niệm, lạy bái thần linh.
Lỗ giao thừa vào lúc 12 giờ đêm ngày 30 Tết là thời diêm quan ữọng, thiêng liêng giao giữa năm cũ và năm mới.
Làng Cảnh Dương có tục đốt lửa trong lễ giao thừa tại đình làng. Sau khi tiến hành lễ giao thừa, ông Chánh lễ trân trọng cầm ngọn đuốc châm từ chính điện đi ra sân đình đốt vào đống củi to, ngọn lửa cháy thành đống than hồng đỏ rực. Đây là lửa của thần linh, của giang sơn nên mọi người dân Cảnh Dương đều được đưa ngọn lửa thần về nhen lại trong bếp gia đình để giữ ữuyền thông và may mắn trong năm. Do đó, dân làng rất thành kính coi trọng lê giao thừa, từ các ngả đường, người lớn, trẻ em cùng nhau ra đình làm lê và lấy lửa hổng về cho bếp nâu nhà mình, ngọn lửa thiêng liên tục được nhóm lên trong ba ngày Tết cho đến lê đốt vàng đưa ông bà về cõi cực lạc. Cảnh Dương còn giữ lê Nguyên đán, được tiến hành vào lúc rạng đông ngày 1 tháng Giêng. Thời điểm từ lễ giao thừa đến lễ Nguyên đán, các gia đình đều thắp hương cúng vái những nơi có thờ tự từ bàn thờ tổ tiên, bếp, thiên đài, cửa ngõ, tàu thuyền, phương tiện sản xuât theo quan niệm "Đất có thổ công, sông có hà bá".
Lễ châm đạc (động mõ) vào ngày mồng 3 Tết. Đây là ngày trọng thể được dân làng quan tâm, cũng là ngày phần đông các gia đình cúng "đốt vàng" để đưa tiễn ông bà sau những ngày ăn Tết cùng con cháu.
Sáng tinh mơ, từ ữong nội đình ra đến tận các sân thượng hạ, các loại đổ thờ, bát bửu, cờ thẻ, lọng tán được ữang trí nghiêm trang, lộng lẫy. Từng nhịp trống tam thất hòa cùng mã não, trống lớn thôi thúc mọi người nô nức tham gia.
Lỗ gồm hai phần: rước thần về đàn động mõ, lễ động mõ và rước thần trở lại đình.
Ban hành lễ gồm hai bộ phận: văn và võ; văn chuyên lo việc tế lê, võ chuyên lo việc rước sách. Bộ phận quan viên bản văn gồm chánh lê, bổi tê' xướng lễ, tín hiệu và các quan viên phục dâng hương, dâng rượu. Bộ phận quan viên bên võ gồm đại hiệu, người chỉ huy buổi rước, các vị phụ tá kim thanh, tiểu cổ, các quan viên cầm thẻ bài, cờ lệnh, đội bài ban do hai tiền hô điều khiên và một số tráng đinh phục dịch việc cắm cờ, lọng tán, gánh kiệu rước.
Toàn bộ quan viên chức sắc, nho sinh, xã nhiêu, nộp dịch trực tiếp phục vụ buổi lễ là gần 100 người. Tất cả đều mặc trang phục nghiêm chỉnh, theo đúng quy định lễ phục.
Rước động mõ có hai kiệu, kiệu chính nhỏ, được chạm trổ tinh vi, kết cấu đầu rồng, đuôi phượng, được đặt một chiếc bổ hương lớn có cắm một chiếc tàn nhỏ xinh để che bổ hương. Chiếc bổ hương được thắp một cây hương to, với đường kính 3 cm, dài 60 cm, thắp cháy từ 1 - 2 ngày mới tàn. Buổi rước chính là chiếc bổ hương đặt trên kiệu, đây là chiếc bổ hương tượng trưng cho cộng đổng thần linh và được tôn sùng là linh thiêng nhẩt.
Đàn động mõ là một bãi cát sạch sẽ, được trang trí tôn nghiêm giữa trời vói nhiều đẳng thư đặt bồ hương cộng đổng, cờ thẻ các bộ tam ngũ sự, cờ xí, các đổ bát bửu trong khuôn viên đình Đụn. Từ đình Lớn đến đình Đụn đi hơn 500 m, với nghi lễ rước trang nghiêm, thành khẩn, với thời gian rước hơn một giờ, mới đặt bổ hương cộng đổng vào vị trí đàn; khi toàn bộ đội hình văn đã ở tư thế sẵn sàng, ban hành lễ tiến hành lễ cáo yết trời đất gọn nhẹ với một tuần hương, lễ châín đạt khởi hành, vị quan viên được làng cử làm nhiệm vụ động mõ khoan thai tiến vào đăng đàn lạy tạ, nhận dùi mõ và tiến về vị trí đặt mõ thực hiện động mõ. Vị quan viên được làng cử động mõ không những phải hiểu lễ nghi mà phải bình tĩnh, chủ động, mới đánh mõ (đúng 100 tiếng) với khoảng cách đều đặn cùng tiêng vang của âm thanh mõ làm lay động lòng người.
Từ lễ đốt lửa ở đình vào đêm giao thừa, từ tiêng động mõ đầu năm mói, nhiều người dân của làng đã chiêm nghiệm, luận ra sự hưng thịnh, bình yên của làng trong năm tói.
2. Lễ kỳ yên: sau lễ động mõ, các vạn, phường, các thuyền câu lưới, chị em buôn bán chọn ngày xuất hành, lại một dịp pháo nổ, nhất là ở cửa lạch khi các thuyên bắt đầu ra cửa lạch. Sau lễ Tết đầu năm mới, lê kỳ yên hay cầu yên được tổ chức, đây là một hình thức tín ngưỡng tổn tại trong đời sống và tâm thức của cộng đổng người Việt từ bao đòi. Le do làng chủ trì, có sự tham gia của các gia đình với cô xôi, nải chuối theo lòng thành. Buổi lễ bắt đầu từ đình Tổ và kết thúc tại bãi kỳ yên.
Ngày nay, ở nhiều làng quê, để cầu mong cho con dân đi làm ăn tiên đổng, ngoài bãi, trên sông biển, noi núi rừng đều được thuận lợi, may mắn, ngày mùng 7 hạ nêu cũng là ngày tiên hành lê khai hạ của làng.
Ở làng Cảnh Dương cũng có lễ cầu ngư, cầu mùa được tổ chức thường niên vào ngày rằm tháng Giêng.
Lê tế tổ tiên ở làng Cảnh Dương được tiến hành trang nghiêm. Trong buổi lễ, sau phần dâng hương, dâng rượu, nội dung quan trọng là đọc bản chúc văn để thỉnh mời chư vị tổ tiền khai khẩn, đổng khẩn và những người có công đủ điều kiện được làng thờ phụng (người xưa thường đọc lại hương ước của làng để nhắc nhở mọi người ghi nhớ).
Vật phẩm lễ gồm cỗ xôi, con gà, thịt lợn của làng, còn các gia đình thì chuẩn bị cỗ xôi, con gà. Sau lễ, ban ngũ huơng, hội đổng hào mục, hội tu văn họp đê hoạch định việc làng cho năm sau.
Ở Cảnh Duơng còn có lễ hội mùa xuân, lễ hội này vân được lưu giữ lại trong một bộ phận dân cư. Phần lễ chỉ mang tính tưởng niệm, biểu thị lòng tôn kính với thần linh và cầu mong được phù hộ, ban phước lành, đó là mong muốn của cả cộng đổng nên do cộng đồng chủ trì tổ chức. Thông thường hằng năm chỉ có rước cô gà, cô chén và tế thần trong ba ngày đêm, tập trung vào chiều và tối.
3. Lễ tế ngưu: vật phẩm tế ngưu ngày xưa phải là trâu, sau này chuyển sang bò. Buổi lê này cũng như buổi lễ tế tổ, phần quan trọng là đọc chúc văn, bản chúc văn là lòi chúc tụng và danh sách thỉnh mời chư vị thần linh, các vị khai khẩn, các vị quan có công vói làng được ghi rõ tên tuổi, chức vụ theo thứ tự câp bậc, công lao. Tuy danh sách thỉnh mời nhiều nhưng tập trung vào hai loại:
-   Thần linh huyền thoại được xem như thật vì có chức vị, có sắc phong của các triều vua, được phong loại thượng đẳng thần, thuộc loại siêu nhân.
-  Người của làng có công đức là các vị khai khẩn đêh các danh nhân có công với làng, kể cả những người đóng góp tiền cho làng thuộc hàng hậu thần, hậu tự.
Sau khi lễ xong, vật phẩm được phân chia để đi kính các vị chức sắc từ tiên chỉ, thứ chỉ, đên các vị hào mục chức sắc theo vị trí phẩm hàm. Số còn lại được chia đều thành từng phần cho tất cả mọi gia đình như lễ tế tổ.
Buổi lễ tế ngưu mở màn cho hội làng. Sau đó lê hội diễn ra ữong ba ngày đêm. Ngày nào cũng tiền hành hai lê rước cổ và một buổi tế thần, từ 4 giò chiều đền 4 giờ sáng.
Rước cỗ gà, cỗ chén là rước cô để về cúng thần chứ không phải rước thần. Đoàn rước sắp xếp đội hình cũng gần giống như rước động mõ. Buổi rước được tiến hành theo nghi lễ, từ lúc rước cô từ nhà chủ về đình làng theo đúng giờ quy định.
Rước chúc văn được tiến hành sau khi rước cô gà, cô chén xong. Buổi rước chuyển về đêm được những ánh đèn tỏa sáng làm cho buổi rước càng thêm uy nghiêm, trọng thể. Buổi rước là đưa bản chúc văn từ hội sở tư văn về đình Lớn. Chúc văn cũng là bản thiếp chúc tụng lại mọi vị thần linh, các vị tiền bối, người có công với làng nên càng tôn thêm sự cung kính, trọng thể. Khi chúc văn được đặt đúng vị trí, toàn bộ văn, võ có trách nhiệm của các buổi rước chuyển sang lễ tế thần.
Tế thần là một buổi chiêu đãi tượng trưng của dân làng đối vói chư vị thần linh và tổ tiên tiền bối mà làng đã thờ tự. Tế thần là một nghi thức tín ngưỡng và văn hóa dân gian thu hút các tầng lớp con em của làng xã đến xem với tấm lòng trân trọng.
Cảnh Dương còn có một loại hình "ca đình sở, rước du xuân" được tiền hành năm năm một lần, địa điểm tại đình Đụn. Buổi rước đưa các vị thần linh từ nội đình ra quảng trường đúng theo các công đoạn như buổi rước động mõ; chỉ khác về quy mô, đội hình gâp ba lần, với nhiều nghi thức bổ sung như thị nam, thị nữ, đánh cờ ngưòi, nấu cơm và các trò vui khác. Ca đình sở, rước du xuân cắm trại dã ngoại tại đình Đụn năm hoặc bảy ngày đêm và cùng dân làng vui vẻ liên hoan du ngoạn. Mãn hạn mới ruóc các vị thần linh về đình làng.
Từ tế lễ, hội hè, việc làng, việc xóm, việc thôn đền việc họ, giô những bậc khai sinh dòng họ đên giô tổ hên, ông bà, cha mẹ, đuợc hên hành tùy theo gia phong, không cần mâm cao cô đầy. Việc giô họ và giỗ ông bà, cha mẹ vừa là đạo hiếu, bày tỏ lòng tri ân tiên tổ, cha mẹ, vừa là dịp để con cháu tụ hội, giáo dục ý thức huyết thông dòng tộc, thêm gắn bó, yêu thuơng, đùm bọc lẫn nhau.
Tang lễ:
Việc hiểu rất được nhân dân trong làng, xóm, thôn, họ tộc quan tâm. Với ý thức "nghĩa tử là nghĩa tận", khi có người qua đời thì trong họ tộc, trong thôn xóm, mọi người đều đến viếng thăm, chia buồn và giúp đõ. Trưởng tộc làm lễ cáo yết tổ tiên, thông báo bà con trong họ tộc đến lo tang đám với tang chủ.
Trong đám tang, có đội phục dịch đưa tang chuyên nghiệp, khoảng 40 người hợp thành một phường, do một cụ làm phường trưởng. Trách nhiệm chính của họ là khiêng nhà đưa, linh xa... đến mộ chí và trả lại nhà bảo quản. Đội phục dịch được hưởng tiền thù lao của gia chủ theo nội quy quy định và tiền thưởng của gia chủ tùy theo lòng hảo tâm. Những gia chủ nghèo, đội cúng lại một số tiền hương khói, đó là lòng hảo tâm giúp đỡ nhau.
Các nghi thức nhập quan thành phục (chít khăn tang), phát tang, hạ huyệt đã trở thành thông lệ phải tuân thủ. Người ta căn cứ vào tuổi người mất, ngày giờ mâ't mà vận dụng để định giờ, ngày tiên hành những nghi thức hên. Các cố lão mâ't, thì hàng chắt được chít khăn vải điều, vải vàng.

Đám đưa tang là trọng tâm của thời gian tang lễ. Le đưa tang có nhà đưa để linh cữu người quá cố; linh xa để bài vị, bổ hương người chết và lổng triệu ghi tên tuổi, quê quán của người chết. Ngoài ra, còn có trung tín hay chinh thuận tùy đối tượng và bàn án, câu đối, bức trướng tùy theo người quá cố và gia đình có mối quan hệ bạn bè, láng giềng rộng hay hẹp. Ông bá lệnh đánh trống đại là người chủ trì điều khiển đám đưa tang với hai ông phụ tá đánh kim thanh, tiểu cổ trực tiếp điều khiển nhịp đi, giữ thăng bằng cho quan tài.
Ở Cảnh Dương, hầu hết các gia chủ đều tổ chức lễ 50 ngày, 100 ngày, nửa tang (một năm) và mãn tang (hai năm).
Theo tục lệ, những gia đình có đại tang phải tránh đến những nơi lê hội, các cuộc hoan hỉ như cưới hỏi, lên cột nhà, đẩy thuyền,... Trong gia đình thì tạm hoãn việc cưới, hỏi cho con cái, anh em.
Cưới hỏi:
Việc hôn nhân - cưới hỏi là việc rất quan trọng của đời người, khi đến tuổi trưởng thành cũng là mối quan tâm lớn của các bậc cha mẹ.
Ở Cảnh Dương cũng như nhiều làng quê khác, trong thời phong kiến, tục lệ mai mối, dạm hỏi, cưới xin đều phải tuân theo lệ "cha mẹ đặt đâu con ngồi đây" và theo "môn đăng hộ đối", "nổi tròn úp vung tròn, nổi méo úp vung méo". Tuổi tác, tướng người bị chi phối khá nặng ữong việc lấy vợ, lấy chổng.
Việc hỏi, việc cưới ở Cảnh Dương được tổ chức qua nhiều thủ tục, tập quán rất cẩn thận, vói những nghi thức: làm mối, đi dạm hỏi, đi làm rể, đi làm dâu, lễ cưới. Mỗi nghi thức có cách tiến hành cùng lễ nghi, lễ vật riêng.
Nhưng điều cơ bản nhất là sau khi bà mối qua vài lần thăm dò, trò chuyện biết đã thuận tình thì chính thức đặt vân đề "kết tóc xe tơ" cho đôi lứa trăm năm. Từ lễ hỏi đến khi đôi lứa nên vợ nên chồng, hai gia đình làm theo phương châm "thương con ngon mọi việc" nên đều "vun xới" cho đôi lứa thành vợ thành chồng. Việc hôn nhân ở Cảnh Dương từ xưa đến nay không có lệ ăn uống linh đình, lãng phí tuy phải qua nhiều lễ nghi. Khi nam nữ thanh niên đến tuổi đã lập gia đình, họ thường sống thuận hòa, tự tạo lập cuộc sống hạnh phúc từ hai bàn tay gây dựng nên với sự hô trợ động viên của cha mẹ đôi bên. Vì thế, trong làng, chuyện vợ chồng ly dị nhau xảy ra râ't hãn hữu. Đó cũng là nét đẹp văn hóa gia đình mà người dân Cảnh Dương vẫn lưu giữ được cho đến ngày nay.

Bài viết và biên soạn lại

Giới thiệu xã Cảnh Dương (Phần 6) - Nhân vật lịch sử


Nhân vật lịch sử
Địa linh gắn nhân kiệt đã làm rạng danh đất Cảnh Dương giàu truyền thống văn hóa lịch sử và xã Cảnh Dương anh hùng trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp và chống Mỹ.
Giai đoạn trước thế kỷ XX
Cảnh Dương có 77 vị tú tài, cử nhân, tiền sĩ khoa bảng. Trong đó, tiên sĩ của làng có tám vị.
Trong những tiên sĩ khoa bảng có nhiều ngưòi công danh hiên hách, sông làm danh tướng, chết làm danh thần, tiêu biểu là:
1. Đỗ Đức Huy:
Nhà giáo dục có công với làng xã Đô Đức Huy nổi tiếng là người học trò đặc biệt thông minh, ông đô sinh đổ khoa Bính Tý (1756) đời Cảnh Hưng, Lê Hiến Tông. Đỗ Đức Huy từng giữ chức tri huyện Hưong Sơn. Vì có công dẹp loạn, an dân, ông được chuyên qua làm quan võ, thăng quân cơ, sau làm sơn nam trân.
Khi về quê, ông mở trường dạy học ở ữước Văn Miêu, học trò đến theo học rất đông. Nhiều người đô đạt, thành tài đã tìm đến hương cống.
Ông sống gần dân, yêu thương những người dân lao động. Ông còn là người cầm đầu đoàn người trẩy kinh xin miễn thuế mắm Hàm Hương cho Cảnh Dương. Từ đó, nhân dân không phải nộp thuế mắm Hàm Hương nữa. Sau khi ông mất, dân làng lập miêu thờ và truy tôn ông là "Đỗ tướng Công".
2. Tiến sĩ Phạm Chân - hiệu Tố Trai
Theo "Văn hội tích bi ký" - tâm bia tại miêu văn chỉ của làng dựng năm Canh Tý (1900), tức năm Thành Thái thứ 12 - ghi chép như sau: "Mậu Tuất Khoa (1888) sắc tứ đệ tam giáp đổng tiến sĩ xuất thân, Phạm Chân sĩ chí "Án sát" . Ngày 25-2-1860, đồn Chí Hòa thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương, án sát Phạm Chân tuân tiết.
3. Tổng đốc Đỗ Phú Túc
Ông sinh năm 1849, là một danh sĩ tên tuổi, từng đỗ đầu bút thiếp, làm quan án sát tỉnh Hà Nam, Tuần Vũ Nam Định, sau khi làm tổng đốc tỉnh Bắc Giang đuợc phong hiệp tá đại học sĩ. Ông là nguời đi sứ Trung Quốc cuối cùng trong triều Nguyễn - quý danh Đỗ Tuông Công. Khi làm tổng đốc ở Bắc Giang có nạn lụt lớn làm võ đê sông Hồng, nhờ sáng kiến của ông mà ngăn được nước lũ không tràn vào làng quê, nhân dân tri ân ông đã lập đền thờ sống "Thành Hoàng". Khi về hưu sống ở quê nhà, ông là người đạo cao đức trọng và có công lớn trong việc đôn đốc, thành lập trường Việt - Pháp - Roòn, tức trường Tiểu học Cảnh Dưong ngày nay. Ông khuyến khích sự nghiệp giáo dục quê hương phát triển trở thành làng khoa bảng, con cháu đỗ đạt thành danh. Thời kỳ Văn Thân, ữong một dịp về làng, ông đã khéo léo ngăn chặn được ý đổ hủy diệt làng Cảnh Dưong bằng đạn pháo của thực dân Pháp. Nhân dân Cảnh Dưong biết ơn ông, thường gọi là cụ Thượng - Thượng thư Đỗ Phú Túc.
Giai đoạn từ đầu thếkỷ XX đến nay
4. Liệt sĩ - phóng viên ảnh Đình Thúy
Ông tên thật là Bùi Đình Túy, sinh năm 1904 tại thôn Liên Trung, xã Cảnh Dương, ữong một gia đình nghèo. Thuở học trường Tiểu học Roòn, ông đã rất say mê nghệ thuật, hội họa, tạo hình. Đô Prime, ông thi vào học trường Bách nghệ Hà Nội, chuyên ngành ảnh, hội họa và tích cực hoạt động phong trào học sinh, sinh viên yêu nước. Năm 1936, ông tham gia bãi khóa, để tang cụ Phan Châu Trinh nên bị đuổi học. Rời Hà Nội, ông vào Sài Gòn tiếp tục tham gia phong trào đâ'u tranh yêu nước và bị giặc Pháp bắt. Sau khi trốn khỏi nhà tù thực dân, ông tích cực hoạt động trong tổ chức Việt Minh Sài Gòn - Chợ Lớn. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đình Thúy công tác tại Sở Thông tin Sài Gòn, làm phóng viên báo Cảm Tử của đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Sau Hiệp định Giơnevo (1954), Đình Thúy tập kết ra Bắc, nhận công tác tại Thông tấn xã Việt Nam. Trong dịp Bác Hồ và đoàn đại biểu Chính phủ ta đi thăm hữu nghị chính thức Cộng hòa Ân Độ vào tháng 2-1958, Đình Thúy được đi theo đoàn chụp ảnh các hoạt động của Bác và đoàn.
Năm 1965, Đình Thúy tình nguyện lên đường vào Nam chiến đấu trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Ngày 21- 9-1967, ông hy sinh ờ tuổi 63 tại mặt trận Trảng Dầu (Sông Bé cũ) sau khi hoàn thành nhiệm vụ tường thuật toàn bộ diên biên của Đại hội anh hùng, chiên sĩ thi đua toàn quân giải phóng miền Nam. Đến nay, hài cốt của ông vẫn chưa được tìm thây. Để ghi nhớ những đóng góp to lớn của ông đối với cách mạng miền Nam và Sài Gòn - Chợ Lớn, nhân kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định lây tên liệt sĩ Bùi Đình Thúy đặt tên cho một con đường và một cây cầu ờ quận Bình Thạnh.
Để tưởng nhó người con ưu tú của quê hương đã hy sinh cho Tổ quốc, Đảng ủy, chính quyền và nhân dân xã Cảnh Dương đã tổ chức xây mộ (không hài cốt) cho ông ở vị trí hàng đầu ở nghĩa trang liệt sĩ xã nhà.
5. Liệt sĩ, Anh hừng lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Ngọc Thạnh
Ông sinh năm 1930 là con trai họa đổ Đỗ Như Khương, cháu nội quan thượng thư Đỗ Phú Túc. Do sớm giác ngộ cách mạng, năm 17 tuổi ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, được Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn bố trí hoạt động gây dựng phong trào đâu ữanh cách mạng ữong học sinh, sinh viên. Đỗ Ngọc Thanh được giao phụ trách Hội Học sinh Nam Bộ, rồi làm bí thư Đảng Đoàn đầu tiên của Sài Gòn - Chợ Lớn. Trong cuộc biểu tình ngày 9-1- 1950, mặc dù đã bị lộ nhưng Đỗ Ngọc Thanh vẫn trực tiếp chỉ đạo đấu tranh. Tháng 11-1951, do một tên phản động chỉ điểm, bọn mật thám Pháp đã bắt Đỗ Ngọc Thạnh, chúng tra tân dã man rồi bỏ vào bao bố, liệng xuống sông Sài Gòn. Đỗ Ngọc Thạnh hy sinh ngày 29-11-1951. Theo báo Công an Thành phô'Hồ Chí Minh và qua lòi kể của bà Đỗ Thị Kim Oanh, em gái liệt sĩ Đỗ Ngọc Thạnh cho biết: đổng đội đã tìm thây hài cốt của ông và đem về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Thành phố Hổ Chí Minh. Năm 2000, Đỗ Ngọc Thạnh được truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hoạt động cách mạng của ông đã được tái hiện qua bộ phim tài liệu lịch sử Thành Đoàn thời bí mật.
Để ghi nhớ tấm gương hy sinh anh dũng của Đỗ Ngọc Thạnh, ủy ban nhân dân Thành phố Hổ Chí Minh đã quyết định lây tên ông đặt tên cho một con đường tại quận 5 Thành phố HỔ Chí Minh.
6. Liệt sĩ Lê Đài
Ong nguyên là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phú Yên, sinh năm 1917 tại xã Cảnh Dương. Do sớm giác ngộ cách mạng, năm 22 tuổi, thầy giáo Lê Đài rời quê hưong vào tỉnh Phú Yên dạy học. Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, thầy giáo Lê Đài tham gia cướp chính quyền ở tỉnh lỵ Sông Cẩu, nhận trọng trách chủ nhiệm Việt Minh (tổng Xuân Đài) và sau đó đuợc điều động về tỉnh. Trong chín năm kháng chiến, đổng chí Lê Đài giữ nhiều trọng trách của tỉnh Phú Yên: ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Úy ban hành chính kháng chiến tỉnh phụ trách công tác dân quân, Phó Bí thu Tỉnh ủy kiêm chính ữị viên tỉnh đội Phú Yên. Sau Hiệp định Giơnevơ, tháng 7-1954 Thường vụ khu ủy khu V phân công đồng chí Lê Đài ờ lại miền Nam, tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến, giữ trọng trách bí thư Tỉnh ủy Phú Yên. Trong những ngày đen tối nhất của cách mạng miền Nam, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên Lê Đài cùng vói một số đổng chí được phân công xây dựng, củng cố tổ chức Đảng và các cơ sở cách mạng. Ngày 27-5-1955, trên đường đi công tác tại xã Xuân Lãnh (huyện Đổng Xuân), đổng chí Lê Đài bị địch phát hiện, vây bắt. Đổng chí đã kiên cường chống trả, làm bị thương một sô' tên, nhưng địch quá đông, đổng chí đã bị giặc bắt và biệt giam tại nhà lao Phú Yên. Trong địa ngục trần gian của lao tù Mỹ - Diệm, người cộng sản Lê Đài vân một lòng sắt son với Đảng, trong nanh vuốt của kẻ thù vân kiên trung không chịu đầu hàng. Sau chín tháng bị kẻ thù tra tân bằng những thủ đoạn dã man, đổng chí Lê Đài đã trút hơi thở cuối cùng trong nhà lao Mỹ - Diệm vào ngày 26-10-1956. Đổng chí Lê Đài đã vĩnh viễn ngã xuống, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Nhưng kẻ thù vô cùng thâm độc, đã dựng lên màn kịch vu cáo lập lờ, làm cho người đảng viên cộng sản Lê Đài tiếp tục "hy sinh" 35 năm trong lòng đổng bào đổng chí. Sau này, Tỉnh ủy Phú Yên đã dày công sưu tầm, kiểm tra thông tin, tài liệu trong 10 năm để làm rõ những uẩn khúc về sự hy sinh cao cả của người bí thư Tỉnh ủy và ra quyết định kết luận những vân đề lịch sử liên quan đến đổng chí Lê Đài. Ngày 16-10-1991, Tỉnh ủy Phú Yên long trọng tổ chức lễ tưởng niệm đổng chí Lê Đài - người bí thư Tỉnh ủy đẩu tiên thời kỳ đâu tranh cách mạng chống Mỹ, cứu nưóc, đã hy sinh oanh liệt trong nhà tù Mỹ - Diệm.
Năm 2008, nhân kỷ niệm 52 năm ngày đổng chí Bí thư Tỉnh ủy Lê Đài hy sinh, theo nguyện vọng của nhiều vị lão thành cách mạng ỏ tỉnh Phú Yên, để bày tỏ lòng thành kính tri ân ngưòi cán bộ cách mạng trọn đời vì dân, vì Đảng, tôn vinh một người cộng sản kiên trung, Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định lây tên đổng chí đặt tên cho một con đường ở thành phố Tuy Hòa. (Bài viết được trích dẫn bởi Anh Tài - Cảnh Dương).

Bài viết và biên soạn lại

Sunday, May 8, 2016

Kết quả đạt được trong chương trình xây dựng nông thôn mới xã Cảnh Dương - Giai đoạn 2011 - 2015

Ảnh: Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương
 Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 -2015, xã Cảnh Dương là một trong tám xã làm điểm của huyện Quảng trạch ( cũ ), ngay từ khi nhận được các văn bản chỉ đạo triển khai của tỉnh, của huyện, Đảng ủy xã đã xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa quan trọng đòi hỏi sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và sự chung tay hưởng ứng của Mặt trận, các tổ chức, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân. Đảng ủy đã ban hành Nghị quyết số 03 – NQ/ĐU, ngày 28/9/2011 để tập trung lãnh đạo xây dựng nông thôn mới tại địa phương giai đoạn 2011 – 2015, đồng thời ban hành Quyết định số 21 – QĐ/ĐU, ngày 30/10/2011 về việc thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới gồm có 19 đồng chí do đồng chí Bí thư Đảng ủy làm trưởng ban. Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ giúp Đảng ủy, HĐND xã, UBND xã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, chỉ đạo các bộ phận liên quan tham mưu giúp UBND xã xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch về xây dựng nông thôn mới tại địa phương đạt kết quả cao. Trên cơ sở đó UBND xã ban hành Quyết định số 128/QĐ – UBND ngày 31/10/2011 thành lập Ban quản lý xây dựng nông thôn mới gồm có 29 thành viên do đồng chí Chủ tịch UBND xã làm trưởng ban; sau đó tiếp tục thành lập Ban phát triển ở 9 thôn.

Ảnh: Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương
       Với sự quyết tâm và chỉ đạo quyết liệt của Đảng ủy, UBND xã, Ban chỉ đạo, Ban quản lý xây dựng nông thôn mới của xã phối hợp với đoàn thể, chỉ đạo các ban ngành tổ chức công tác tuyên truyền, phổ biến về các chủ trương, chính sách, mục đích, ý nghĩa, nội dung và cách thức tiến hành xây dựng nông thôn mới đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhằm tạo điều kiện để cán bộ và người dân hiểu rõ hơn mục đích, nội dung, cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới.Thông qua các buổi họp dân để nhân dân nắm đ­ược mục đích, ý nghĩa của công cuộc xây dựng nông thôn mới, vận động nhân dân h­ưởng ứng thực hiện. Tổ chức các hội nghị cho cán bộ cốt cán trong Đảng uỷ, HĐND, UBND, MT và các Đoàn thể, Bí th­ư chi bộ, Tr­ưởng thôn, Trư­ởng ban công tác Mặt trận thôn; tổ chức họp dân tại 09 khu dân cư­, qua công tác tuyên truyền nhân dân đã hiểu đ­ược các chủ trư­ơng, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nư­ớc và ý thức đ­ược trách nhiệm của nhân dân nên đã tự giác tham gia đóng góp ý kiến vào đồ án quy hoạch, đóng góp kinh phí xây dựng một số công trình phúc lợi, tự chỉnh trang đ­ường giao thông nông thôn. Cùng với sự hỗ trợ của cấp trên. Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới với tổng vốn đầu tư từ 2011 – 2014 là 31 tỷ 225 triệu 400 nghìn đồng, trong đó nguồn vốn từ ngân sách xã và vốn huy động xã hội hóa từ  nhân dân là 18 tỷ 264 triệu đồng. Đến cuối năm 2014 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới theo quy định 19/19 tiêu chí, đạt 100%, cụ thể:
 Năm 2011 đạt 5tiêu chí gồm tiêu chí: Điện; Chợ; Hình thức tổ chức sản xuất; Văn hóa; hệ thống chính trị.
 Năm 2012 đạt 3 tiêu chí:   Bưu điện; Quy hoạch; Nhà ở dân cư.
Năm 2013 đạt 5 tiêu chí:   Y tế; Giao thông; Thu nhập; Tỷ lệ lao động; ANTT.
 Năm 2014 đat 6 tiêu chí:   Môi trường; Trường học; Thủy lợi; Hộ nghèo; CSVC văn                    hóa; Giáo dục
Ảnh: Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương

            Đối với tiêu chí 1về quy hoạch: Tiến hành lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Cảnh Dương và được UBND huyện Quảng Trạch phê duyệt theo Quyết định số798/QĐ-UBND ngày 04 tháng 4 năm 2012; trên cơ sở Quy hoạch đã tiến hành lập Đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 được UBND huyện phê duyệt theo quyết định số 5165/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2012; lập Quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã Cảnh Dương, được UBND huyện phê duyệt theo quyết định số 3821/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2013. Đã tiến hành niêm yết các bản vẽ quy hoạch, tổ chức công bố rộng rãi Quy hoạch, Đề án xây dựng nông thôn mới cho cán bộ và nhân dân biết, đồng thời tổ chức toàn dân triển khai thực hiện Quy hoạch, Đề án xây dưng nông thôn mới.
Kết quả thực hiện tốt Quy hoạch, tiến hành xây dựng Quy chế quản lý Quy hoạch theo quyết định số 3746/QĐ-UBND ngày 31 tháng 10 năm 2014 của UBND huyện Quảng Trạch.Quy hoạch 10 ha khu Làng nghề từng bước hoạt động có hiệu quả; quy hoạch 7,6 ha khu dịch vụ nghề cá tại thôn Thượng Giang. Hoàn thành quy hoạch 2,9 ha đất ở đấu giá quyền sử dụng đất; quy hoạch bổ sung diện tích đất cho trường Mầm Non khoảng 2.000m2. Quy hoạch 41 ha để phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội dọc bờ biển. Quy hoạch chi tiết khu trung tâm; đang quy hoạch phát triển  khu dân cư mới 10 ha phía Tây Bắc thôn Thượng Giang 02 ha phía Tây Nam thôn Tân Cảnh.Kinh phí thực hiện: Kinh phí thực hiện các quy hoạch là 162 triệu đồng.
        Tiêu chí 2 về giao thông: Tập trung nâng cấp, bê tông hóa mới các tuyền đường giao thông liên thôn, nội thôn theo hiện trạng và quy hoạch gắn kết và hoà nhập với mạng giao thông liên vùng; liên kết các khu dân cư với khu sản xuất, liên kết khu trung tâm xã với các thôn. Mở tuyến đường kè biển nối với tuyến đường cứu hộ cứu nạn kết hợp khu neo đậu tàu thuyền tạo thành mạng lưới giao thông đồng bộ và thuận tiện.
Kết quả trục đường xã, liên xã: Tổng chiều dài: 1,5 km, chiều rộng nền đường 6,5 m; mặt đường 5,5 m, được bê tông hóa 1,5 km, đạt tỉ lệ 100%. Trục đường thôn, xóm: Tổng chiều dài: 7,26 km, chiều rộng: 3,0 – 3,5 m, chiều dài  bê tông hóa: 7,26 km, đạt tỉ lệ 100%. Đường ngõ, xóm: Tổng chiều dài: 8,876 km, chiều rộng: 2,5 – 3,0 m, chiều dài được bê tông hóa: 6,236 km, đạt tỉ lệ 70,3%; cứng hóa biên hòa: 2,64 km đạt tỷ lệ 29,7%, không còn đường lầy lội.
      Đường trục nội đồng: Xã Cảnh Dương với đặc điểm xã ngư nghiệp, chủ yếu đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và sản xuất tiểu công nghiệp và dịch vụ…không có đất sản xuất nông nghiệp nên không có trục đường nội đồng. Kinh phí thực hiện: Tổng kinh phí thực hiện là 28.835,4triệu đồng.
Tiêu chí 3 về thuỷ lợi do đặc điểm của xã Cảnh Dương là xã ven biển, không có đất sản xuất nông nghiệp, nên không có hệ thống kênh mương nội đồng. Xã có hệ thống kè biển chắn sóng và cửa lạch cho tàu thuyền ra vào phục vụ đánh bắt thủy sản, có hệ thống cống rãnh thoát nước bảo đảm cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của người dân trên địa bàn.
Đối với tiêu chí 4 về điện: Hệ thống điện cơ bản được nhà nước đầu tư xây dựng. Toàn bộ hệ thống điện có 3.900 m đường dây cao thế, 5.453 m đường dây hạ thế, đã lắp đặt 06 trạm biến áp với dung lượng 2010 KVA. Hệ thống điện luôn được kiểm tra, sửa chữa bảo đảm an toàn trong quá trình sử dụng. Đã xây dựng hệ thống điện chiếu sáng trên các trục đường ven biển, liên thôn và trong khu dân cư. Tuyên truyền vận động nhân dân sử dụng điện an toàn, tiết kiệm, có hiệu quả.
      Toàn xã đã có 1993/1993 hộ sử dụng điện thường xuyên, đạt tỉ lệ 100%.
Tiêu chí 5 về trường học: Tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật và các điều kiện cần thiết khác đảm bảo công tác dạy và học theo quy định. Cơ sở vật chất của các trường học được xây dựng khang trang theo quy chuẩn, xã có 3 trường của các bậc học gồm:  01 trường mầm non, 01 trương tiểu học, 01 trường trung học cơ sở. Các trường cơ bản có cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng đạt chuẩn quốc gia, có đầy đủ các phòng học và trang thiết bị dạy và học...
          Trong đó: Trường Mầm non được xây dựng 2 tầng, gồm 20 phòng các loại; Diện tích tích khuôn viên rộng 5.150 m2, bình quân diện tích đất 10,43m2/cháu., diện tích phòng học sử dụng rộng 930 m2.
          Trường Tiểu học được xây dựng 2 tầng, gồm 27 phòng các loại; Diện tích tích khuôn viên rộng 16.160 m2, tính bình quân diện tích đất 21,3 m2/cháu, diện tích phòng học sử dụng 1.296 m2.
          Bán kính phục vụ cho học sinh từ nhà đến trường từ 500 đến 1000 m.
   Trường THCS được xây dựng 2 tầng và nhà cấp 4 gồm 28 phòng (trong đó đang xây dựng 12 phòng) các loại; Diện tích tích khuôn viên rộng 17.382 m2, tính bình quân diện tích đất 41,2 m2/học sinh, diện tích phòng học sử dụng 1.344 m2. Bán kính phục vụ cho học sinh từ nhà đến trường từ 500 đến 1000 m. Tổng kinh phí thực hiện: 14.300triệu đồng.Tiêu chí cơ bản đạt (đạt 81%)
Tiêu chí 6 về cơ sở vật chất văn hoá : Tập trung mọi nguồn lực để xây dựng Nhà văn xã và các thôn đạt chuẩn theo quy định của Bộ VH – TT – DL. Tổ chức các hoạt động văn hoá thông tin, văn nghệ, vui chơi giải trí; bảo tồn, phát huy các hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống trên địa bàn xã; bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật, thể thao, góp phần phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của xã, từng bước nâng cao dân trí, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá cho nhân dân, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở.
Kết quả có 01 nhà văn hóa xã có đầy đủ trang thiết bị bảo đảm phụ vụ các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, các hội nghị, các hoạt động khác của toàn xã. 01 sân thể thao có diện tích  8000 m2 bảo đảm các hoạt động thể thao theo nhu cầu của nhân dân. Đã có 9/9 thôn có nhà văn hóa, diện tích các nhà văn hóa thôn từ 200 m2 trở lên. Nhà văn hoá các thôn được xây dựng khang trang từ năm 2002, có đầy đủ thiết chế văn hóa đảm bảo cho nhân dân sinh hoạt như tủ, bàn, ghế, hệ thống loa máy, hệ thống đèn chiếu sáng, quạt, ti vi...Tổng kinh phí thực hiện: 3.210 triệu đồng.
          Tiêu chí 7 chợ nông thôn: Xây dựng chợ đạt tiêu chuẩn, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá của nhân dân, là trung tâm buôn bán của xã và vùng Ròn. Chợ đã sử dụng từ năm 2008, có các khu kinh doanh theo mặt hàng gồm: 01 khu đình chính, 01 đình phụ, 02 dãy kiốt, có khu vực kinh doanh ngoài trời, có bãi đỗ xe và hệ thống đường đi trong chợ thuận tiện cho việc mua bán. Thực hiện tốt công tác PCCC, AN, ATGT và trồng cây xanh đảm bảo cảnh quan môi trường, khơi thông cống rãnh đảm bảo thoát nước và vệ sinh.
Các hộ kinh doanh đầy đủ các mặt hàng phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân trong vùng, không buôn bán dịch vụ các mặt hàng thuộc danh mục cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật. Có Ban quản lý điều hành chợ, có Nội quy chợ do UBND xã quy định và được các hộ tham gia kinh doanh nghiêm túc thực hiện…Tổng kinh phí thực hiện: 5.800 triệu đồng.
Tiêu chí 8 về bưu điện:  Có điểm Bưu điện văn hóa; phối hợp với Bưu chính viễn thông đưa điểm bưu điện văn hoá xã hoạt động có hiệu quả.
Hệ thống Internet đã về 9/9 thộn có người sử dụng intenet, tỷ lệ khoảng 33/100 hộ dân đã sử dụng mạng Internet; khuyến khích nhân dân sử dụng và quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các điểm Internet trên địa bàn. Tổng kinh phí thực hiện: (Do ngành viễn thông và nhân dân thực hiện).
          Tiêu chí 9 về nhà ở dân cư : Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước về đầu tư chương trình xóa nhà tạm, UBND xã đã tích cực thực hiện chính sách. Hiện tại, xã không còn hộ nào ở nhà tạm; có khoảng 1733 hộ/1993 hộ đạt tỉ lệ 87% có nhà ở kiên cố và bán kiên cố đạt tiêu chuẩn của bộ xây dựng (3 cứng: Nền cứng, khung cứng, mái cứng). Tổng kinh phí thực hiện: (Nguồn kinh phí của nhân dân chủ yếu).
Tiêu chí 10 thu nhập:Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân đầu tư phương tiện, tài sản đánh bắt hải sản xa bờ; tạo điều kiện cho nhân dân phát triển phát triển các ngành nghề dịch vụ hậu cần nghề cá. Từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế đẩy mạnh TTCN theo hướng đa ngành nghề. Phát triển các ngành kinh tế thương mại dịch vụ, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh buôn bán tại chợ Cảnh Dương và vùng phụ cận. Năm 2014 thu nhập bình quân đạt 23,76 triệu đồng/người/năm.
Tiêu chí 11 hộ nghèo : Thực hiện tốt Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo. Tạo điều kiện cho hộ nghèo vay nguồn vốn giải quyết việc làm, nhân rộng những mô hình làm ăn có hiệu quả, hướng dẩn nhân dân thực hiện áp dụng những tiến bộ khoa học kỷ thuật vào sản xuất phát triển kinh tế để thoát nghèo. Thực hiện tốt các chương trình an sinh xã hội hỗ trợ cho hộ nghèo tạo điều kiện thoát nghèo bền vững. Triển khai điều tra rà soát hộ nghèo hàng năm theo quy định, cuối năm 2014 toàn xã có 90/1993 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 4,52%.

Tiêu chí 12 tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên:  Khuyến khích ngư dân mạnh dạn đầu tư chuyển đổi nghề nghiệp sản xuất đánh bắt hải sản ven bờ sang khai thác hải sản xa bờ theo hướng công nghiệp hiện đại; các cơ sở sản xuất TTCN, dịch vụ thương mại cần mở rộng quy mô nhằm thu hút giải quyết việc làm. Tích cực phối hợp các chương trình, dự án để mở các lớp đào tạo nghề cho lao động. Động viên lao động trẻ tham gia các lớp trung học chuyên nghiệp, học nghề vào làm việc tại khu kinh tế Hòn La, các doanh nghiệp trên địa bàn huyện, tỉnh. Toàn xã có 4.077/4.394 lao động trong độ tuổi có việc làm thường xuyên đạt 92,79%. Số lao động còn lại hoạt động ngành nghề theo từng mùa vụ.
         Tiêu chí 13 về hình thức tổ chức sản xuất : Lập Đề án phát triển kinh tế tập thể theo hình thức tổ hợp tác, tổ đoàn kết, cơ sở sản xuất, thành lập các công ty, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả để động viên khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia. Đổi mới, củng cố và nhân rộng mô hình các tổ chức sản xuất, nhất là hoạt động của các tổ hợp tác khai thác hải sản trên biển, hiện nay đã có 26 Tổ đoàn kết, 10 Tổ hợp tác và 44 cơ sở sản xuất tại Làng nghề; đồng thời phát triển đa dạng các hình thái kinh tế ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tổ hợp tác, kinh tế hộ gia đình và doanh nghiệp ở địa phương phát triển.Tổng kinh phí thực hiện: (Nguồn kinh phí của nhân dân).
        Tiêu chí 14 về giáo dục: Phát huy có hiệu quả hoạt động của Hội đồng giáo dục, Hội Khuyến học, Hội Cựu giáo chức và Trung tâm học tập cộng đồng xã. Khuyến khích trẻ em trong độ tuổi đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục trung học, nâng cao tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học.Tăng cường công tác tuyên truyền trong nhân dân; kêu gọi doanh nghiệp phát triển mở rộng sản xuất cùng địa phương trong công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm. Kết quả: Đã đạt công tác phổ cập THCS, tỷ lệ học sinh lớp 9 tốt nghiệp đạt 100%, học lên PTTH đạt 74%, học nghề đạt 12%; tỷ lệ huy động học sinh đến trường của Tiểu học, Mầm Non đạt 100%, tỷ lệ lao động qua đào tạo 2392/4394 người, đạt 54,4%. Chất lượng giáo dục (kiến thức, năng khiếu, đạo đức…) được nâng cao, các trường đều có giáo viên, học sinh đạt giải trong các kỳ thi do Phòng và Sở GDĐT tổ chức.

Tiêu chí 15 y tế: Phát động phong trào xã hội hóa trên lĩnh vực y tế làm cho mọi người nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng và yêu cầu phát triển về y tế. Tiếp tục thực hiện tốt các chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế. Duy trì và nâng cao chất lượng xã đạt chuẩn Quốc gia. Mở rộng các hình thức BHYT. Chú trọng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em, khám chữa bệnh cho người nghèo, người có công. Kết quả: Tỷ lệ người dân tham gia các loại hình bảo hiểm y tế có 6.925/8.629 người,đạt khoảng 80,3%. Hoàn thành trạm y tế 2 tầng đưa vào sử dụng, cơ sở vật chất được đầu tư khang trang, thiết bị đang từng bước được trang cấp, đảm bảo công tác khám chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về ytế, đảm bảo công tác VSMT, phòng chống dịch bệnh và các chương trình phối hợp khác. Trạm Ytế xã đã được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn Quốc gia tại Quyết định số 1030/QĐ - UBND, ngày 28/4/2014. Tổng kinh phí thực hiện: 3.300 triệu đồng (Trạm y tế). Tiêu chí 16 về văn hoá: Đã có 9/9 thôn đạt danh hiệu Làng văn hóa. Có 1765/1993 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa, chiếm tỉ lệ 88,6%. Phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hoá, bài trừ các tệ nạn xã hội đã phát huy hiệu quả, tập trung xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư tiên tiến. Tiếp tục làm tốt công tác bảo tồn, tôn tạo phát huy các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể ở địa phương.
Tiêu chí 17 môi trường: Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong nhân dân. Xử lý rác thải hợp vệ sinh, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đảm bảo các tác động môi trường. Đầu tư nâng cấp Trạm cấp nước sạch đảm bảo nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân, cải tạo hệ thống thoát nước đảm bảo không để ngập úng khi có mưa to, mưa dài ngày trong khu dân cư. Kết quả: Tỷ lệ hộ gia đình được sử dùng nước hợp vệ sinh đạt 100%, trong đó có 92% sử dụng nước từ Trạm cung cấp nước sạch, 08% sử dụng nước từ giếng khơi.
        Các Công ty, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đảm bảo về môi trường. Không có các hoạt động suy giảm môi trường, thực hiện trồng cây xanh ở nơi công cộng.
       Toàn xã có 01 nghĩa trang được quy hoạch, xây dựng tập trung tại một địa điểm xa khu dân cư trên 500 m. Các thôn thành lập các tổ thu gom rác thải, vận chuyển xử lý rác bằng 02 xe ô tô Cửu Long đưa rác về tập kết tại bãi rác tạm của xã. Ngoài ra, đang nâng cấp đầu tư thêm phương tiện, mua thêm 25 thùng đựng rác công cộng và một số phương tiện khác.
Ảnh: Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương
      Tổng kinh phí thực hiện: Trạm cung cấp nước: 5.530 triệu đồng; phương tiện, công cụ thu gom rác: 750 triệu đồng; các nguồn khác từ DN và nhân dân.
       Tiêu chí 18 về hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh: Tổng số cán bộ xã có 23 người đều đã đạt chuẩn theo quy định. Có 14/23 cán bộ, công chức đã hoàn thành trung cấp lý luận chính trị: có: 13 ®/c; S¬ cÊp: 15 ®/c.
         Tr×nh ®é chuyªn m«n :  Đạt chuẩn theo quy định của  NghÞ ®Þnh sè 92/2009/N§ - CP ngµy 22/10/2009 cña ChÝnh Phñ “Hệ thống chính trị đảm bảo theo quy định; Đảng bộ, chính quyền luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được các tổ chức cấp trên công nhận TSVM; Các đoàn thể chính trị đều đạt tiên tiến trở lên. Xây dựng đội ngũ cán bộ đạt tiêu chuẩn theo quy định, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phát huy vai trò của người đứng đầu các tổ chức.

Tiêu chí 19 an ninh: Tình hình AN chính trị, TTATXH trên địa bàn ổn định, không có phạm pháp hình sự, trọng án xảy ra. Lực lượng công an xã đã nêu cao trách nhiệm, đẩy mạnh các giải pháp thực hiện đấu tranh truy quét tội phạm, xử lý các vụ việc kịp thời không để các tình huống xấu xẩy ra, đảm bảo công tác an ninh trên địa bàn. Xây dựng cơ sở an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu, khu vực phòng thủ cững chắc.

Năm 2013, công an xã được công an Tỉnh khen thưởng, năm 2014 UBND xã được UBND tỉnh tặng Bằng khen.