Sponsors

Giới Thiệu

Sunday, May 8, 2016

Kết quả đạt được trong chương trình xây dựng nông thôn mới xã Cảnh Dương - Giai đoạn 2011 - 2015

Ảnh: Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương
 Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 -2015, xã Cảnh Dương là một trong tám xã làm điểm của huyện Quảng trạch ( cũ ), ngay từ khi nhận được các văn bản chỉ đạo triển khai của tỉnh, của huyện, Đảng ủy xã đã xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa quan trọng đòi hỏi sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và sự chung tay hưởng ứng của Mặt trận, các tổ chức, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân. Đảng ủy đã ban hành Nghị quyết số 03 – NQ/ĐU, ngày 28/9/2011 để tập trung lãnh đạo xây dựng nông thôn mới tại địa phương giai đoạn 2011 – 2015, đồng thời ban hành Quyết định số 21 – QĐ/ĐU, ngày 30/10/2011 về việc thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới gồm có 19 đồng chí do đồng chí Bí thư Đảng ủy làm trưởng ban. Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ giúp Đảng ủy, HĐND xã, UBND xã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, chỉ đạo các bộ phận liên quan tham mưu giúp UBND xã xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch về xây dựng nông thôn mới tại địa phương đạt kết quả cao. Trên cơ sở đó UBND xã ban hành Quyết định số 128/QĐ – UBND ngày 31/10/2011 thành lập Ban quản lý xây dựng nông thôn mới gồm có 29 thành viên do đồng chí Chủ tịch UBND xã làm trưởng ban; sau đó tiếp tục thành lập Ban phát triển ở 9 thôn.

Ảnh: Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương
       Với sự quyết tâm và chỉ đạo quyết liệt của Đảng ủy, UBND xã, Ban chỉ đạo, Ban quản lý xây dựng nông thôn mới của xã phối hợp với đoàn thể, chỉ đạo các ban ngành tổ chức công tác tuyên truyền, phổ biến về các chủ trương, chính sách, mục đích, ý nghĩa, nội dung và cách thức tiến hành xây dựng nông thôn mới đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhằm tạo điều kiện để cán bộ và người dân hiểu rõ hơn mục đích, nội dung, cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới.Thông qua các buổi họp dân để nhân dân nắm đ­ược mục đích, ý nghĩa của công cuộc xây dựng nông thôn mới, vận động nhân dân h­ưởng ứng thực hiện. Tổ chức các hội nghị cho cán bộ cốt cán trong Đảng uỷ, HĐND, UBND, MT và các Đoàn thể, Bí th­ư chi bộ, Tr­ưởng thôn, Trư­ởng ban công tác Mặt trận thôn; tổ chức họp dân tại 09 khu dân cư­, qua công tác tuyên truyền nhân dân đã hiểu đ­ược các chủ trư­ơng, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nư­ớc và ý thức đ­ược trách nhiệm của nhân dân nên đã tự giác tham gia đóng góp ý kiến vào đồ án quy hoạch, đóng góp kinh phí xây dựng một số công trình phúc lợi, tự chỉnh trang đ­ường giao thông nông thôn. Cùng với sự hỗ trợ của cấp trên. Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới với tổng vốn đầu tư từ 2011 – 2014 là 31 tỷ 225 triệu 400 nghìn đồng, trong đó nguồn vốn từ ngân sách xã và vốn huy động xã hội hóa từ  nhân dân là 18 tỷ 264 triệu đồng. Đến cuối năm 2014 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới theo quy định 19/19 tiêu chí, đạt 100%, cụ thể:
 Năm 2011 đạt 5tiêu chí gồm tiêu chí: Điện; Chợ; Hình thức tổ chức sản xuất; Văn hóa; hệ thống chính trị.
 Năm 2012 đạt 3 tiêu chí:   Bưu điện; Quy hoạch; Nhà ở dân cư.
Năm 2013 đạt 5 tiêu chí:   Y tế; Giao thông; Thu nhập; Tỷ lệ lao động; ANTT.
 Năm 2014 đat 6 tiêu chí:   Môi trường; Trường học; Thủy lợi; Hộ nghèo; CSVC văn                    hóa; Giáo dục
Ảnh: Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương

            Đối với tiêu chí 1về quy hoạch: Tiến hành lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Cảnh Dương và được UBND huyện Quảng Trạch phê duyệt theo Quyết định số798/QĐ-UBND ngày 04 tháng 4 năm 2012; trên cơ sở Quy hoạch đã tiến hành lập Đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 được UBND huyện phê duyệt theo quyết định số 5165/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2012; lập Quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã Cảnh Dương, được UBND huyện phê duyệt theo quyết định số 3821/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2013. Đã tiến hành niêm yết các bản vẽ quy hoạch, tổ chức công bố rộng rãi Quy hoạch, Đề án xây dựng nông thôn mới cho cán bộ và nhân dân biết, đồng thời tổ chức toàn dân triển khai thực hiện Quy hoạch, Đề án xây dưng nông thôn mới.
Kết quả thực hiện tốt Quy hoạch, tiến hành xây dựng Quy chế quản lý Quy hoạch theo quyết định số 3746/QĐ-UBND ngày 31 tháng 10 năm 2014 của UBND huyện Quảng Trạch.Quy hoạch 10 ha khu Làng nghề từng bước hoạt động có hiệu quả; quy hoạch 7,6 ha khu dịch vụ nghề cá tại thôn Thượng Giang. Hoàn thành quy hoạch 2,9 ha đất ở đấu giá quyền sử dụng đất; quy hoạch bổ sung diện tích đất cho trường Mầm Non khoảng 2.000m2. Quy hoạch 41 ha để phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội dọc bờ biển. Quy hoạch chi tiết khu trung tâm; đang quy hoạch phát triển  khu dân cư mới 10 ha phía Tây Bắc thôn Thượng Giang 02 ha phía Tây Nam thôn Tân Cảnh.Kinh phí thực hiện: Kinh phí thực hiện các quy hoạch là 162 triệu đồng.
        Tiêu chí 2 về giao thông: Tập trung nâng cấp, bê tông hóa mới các tuyền đường giao thông liên thôn, nội thôn theo hiện trạng và quy hoạch gắn kết và hoà nhập với mạng giao thông liên vùng; liên kết các khu dân cư với khu sản xuất, liên kết khu trung tâm xã với các thôn. Mở tuyến đường kè biển nối với tuyến đường cứu hộ cứu nạn kết hợp khu neo đậu tàu thuyền tạo thành mạng lưới giao thông đồng bộ và thuận tiện.
Kết quả trục đường xã, liên xã: Tổng chiều dài: 1,5 km, chiều rộng nền đường 6,5 m; mặt đường 5,5 m, được bê tông hóa 1,5 km, đạt tỉ lệ 100%. Trục đường thôn, xóm: Tổng chiều dài: 7,26 km, chiều rộng: 3,0 – 3,5 m, chiều dài  bê tông hóa: 7,26 km, đạt tỉ lệ 100%. Đường ngõ, xóm: Tổng chiều dài: 8,876 km, chiều rộng: 2,5 – 3,0 m, chiều dài được bê tông hóa: 6,236 km, đạt tỉ lệ 70,3%; cứng hóa biên hòa: 2,64 km đạt tỷ lệ 29,7%, không còn đường lầy lội.
      Đường trục nội đồng: Xã Cảnh Dương với đặc điểm xã ngư nghiệp, chủ yếu đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và sản xuất tiểu công nghiệp và dịch vụ…không có đất sản xuất nông nghiệp nên không có trục đường nội đồng. Kinh phí thực hiện: Tổng kinh phí thực hiện là 28.835,4triệu đồng.
Tiêu chí 3 về thuỷ lợi do đặc điểm của xã Cảnh Dương là xã ven biển, không có đất sản xuất nông nghiệp, nên không có hệ thống kênh mương nội đồng. Xã có hệ thống kè biển chắn sóng và cửa lạch cho tàu thuyền ra vào phục vụ đánh bắt thủy sản, có hệ thống cống rãnh thoát nước bảo đảm cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của người dân trên địa bàn.
Đối với tiêu chí 4 về điện: Hệ thống điện cơ bản được nhà nước đầu tư xây dựng. Toàn bộ hệ thống điện có 3.900 m đường dây cao thế, 5.453 m đường dây hạ thế, đã lắp đặt 06 trạm biến áp với dung lượng 2010 KVA. Hệ thống điện luôn được kiểm tra, sửa chữa bảo đảm an toàn trong quá trình sử dụng. Đã xây dựng hệ thống điện chiếu sáng trên các trục đường ven biển, liên thôn và trong khu dân cư. Tuyên truyền vận động nhân dân sử dụng điện an toàn, tiết kiệm, có hiệu quả.
      Toàn xã đã có 1993/1993 hộ sử dụng điện thường xuyên, đạt tỉ lệ 100%.
Tiêu chí 5 về trường học: Tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật và các điều kiện cần thiết khác đảm bảo công tác dạy và học theo quy định. Cơ sở vật chất của các trường học được xây dựng khang trang theo quy chuẩn, xã có 3 trường của các bậc học gồm:  01 trường mầm non, 01 trương tiểu học, 01 trường trung học cơ sở. Các trường cơ bản có cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng đạt chuẩn quốc gia, có đầy đủ các phòng học và trang thiết bị dạy và học...
          Trong đó: Trường Mầm non được xây dựng 2 tầng, gồm 20 phòng các loại; Diện tích tích khuôn viên rộng 5.150 m2, bình quân diện tích đất 10,43m2/cháu., diện tích phòng học sử dụng rộng 930 m2.
          Trường Tiểu học được xây dựng 2 tầng, gồm 27 phòng các loại; Diện tích tích khuôn viên rộng 16.160 m2, tính bình quân diện tích đất 21,3 m2/cháu, diện tích phòng học sử dụng 1.296 m2.
          Bán kính phục vụ cho học sinh từ nhà đến trường từ 500 đến 1000 m.
   Trường THCS được xây dựng 2 tầng và nhà cấp 4 gồm 28 phòng (trong đó đang xây dựng 12 phòng) các loại; Diện tích tích khuôn viên rộng 17.382 m2, tính bình quân diện tích đất 41,2 m2/học sinh, diện tích phòng học sử dụng 1.344 m2. Bán kính phục vụ cho học sinh từ nhà đến trường từ 500 đến 1000 m. Tổng kinh phí thực hiện: 14.300triệu đồng.Tiêu chí cơ bản đạt (đạt 81%)
Tiêu chí 6 về cơ sở vật chất văn hoá : Tập trung mọi nguồn lực để xây dựng Nhà văn xã và các thôn đạt chuẩn theo quy định của Bộ VH – TT – DL. Tổ chức các hoạt động văn hoá thông tin, văn nghệ, vui chơi giải trí; bảo tồn, phát huy các hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống trên địa bàn xã; bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật, thể thao, góp phần phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của xã, từng bước nâng cao dân trí, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá cho nhân dân, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở.
Kết quả có 01 nhà văn hóa xã có đầy đủ trang thiết bị bảo đảm phụ vụ các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, các hội nghị, các hoạt động khác của toàn xã. 01 sân thể thao có diện tích  8000 m2 bảo đảm các hoạt động thể thao theo nhu cầu của nhân dân. Đã có 9/9 thôn có nhà văn hóa, diện tích các nhà văn hóa thôn từ 200 m2 trở lên. Nhà văn hoá các thôn được xây dựng khang trang từ năm 2002, có đầy đủ thiết chế văn hóa đảm bảo cho nhân dân sinh hoạt như tủ, bàn, ghế, hệ thống loa máy, hệ thống đèn chiếu sáng, quạt, ti vi...Tổng kinh phí thực hiện: 3.210 triệu đồng.
          Tiêu chí 7 chợ nông thôn: Xây dựng chợ đạt tiêu chuẩn, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá của nhân dân, là trung tâm buôn bán của xã và vùng Ròn. Chợ đã sử dụng từ năm 2008, có các khu kinh doanh theo mặt hàng gồm: 01 khu đình chính, 01 đình phụ, 02 dãy kiốt, có khu vực kinh doanh ngoài trời, có bãi đỗ xe và hệ thống đường đi trong chợ thuận tiện cho việc mua bán. Thực hiện tốt công tác PCCC, AN, ATGT và trồng cây xanh đảm bảo cảnh quan môi trường, khơi thông cống rãnh đảm bảo thoát nước và vệ sinh.
Các hộ kinh doanh đầy đủ các mặt hàng phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân trong vùng, không buôn bán dịch vụ các mặt hàng thuộc danh mục cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật. Có Ban quản lý điều hành chợ, có Nội quy chợ do UBND xã quy định và được các hộ tham gia kinh doanh nghiêm túc thực hiện…Tổng kinh phí thực hiện: 5.800 triệu đồng.
Tiêu chí 8 về bưu điện:  Có điểm Bưu điện văn hóa; phối hợp với Bưu chính viễn thông đưa điểm bưu điện văn hoá xã hoạt động có hiệu quả.
Hệ thống Internet đã về 9/9 thộn có người sử dụng intenet, tỷ lệ khoảng 33/100 hộ dân đã sử dụng mạng Internet; khuyến khích nhân dân sử dụng và quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các điểm Internet trên địa bàn. Tổng kinh phí thực hiện: (Do ngành viễn thông và nhân dân thực hiện).
          Tiêu chí 9 về nhà ở dân cư : Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước về đầu tư chương trình xóa nhà tạm, UBND xã đã tích cực thực hiện chính sách. Hiện tại, xã không còn hộ nào ở nhà tạm; có khoảng 1733 hộ/1993 hộ đạt tỉ lệ 87% có nhà ở kiên cố và bán kiên cố đạt tiêu chuẩn của bộ xây dựng (3 cứng: Nền cứng, khung cứng, mái cứng). Tổng kinh phí thực hiện: (Nguồn kinh phí của nhân dân chủ yếu).
Tiêu chí 10 thu nhập:Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân đầu tư phương tiện, tài sản đánh bắt hải sản xa bờ; tạo điều kiện cho nhân dân phát triển phát triển các ngành nghề dịch vụ hậu cần nghề cá. Từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế đẩy mạnh TTCN theo hướng đa ngành nghề. Phát triển các ngành kinh tế thương mại dịch vụ, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh buôn bán tại chợ Cảnh Dương và vùng phụ cận. Năm 2014 thu nhập bình quân đạt 23,76 triệu đồng/người/năm.
Tiêu chí 11 hộ nghèo : Thực hiện tốt Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo. Tạo điều kiện cho hộ nghèo vay nguồn vốn giải quyết việc làm, nhân rộng những mô hình làm ăn có hiệu quả, hướng dẩn nhân dân thực hiện áp dụng những tiến bộ khoa học kỷ thuật vào sản xuất phát triển kinh tế để thoát nghèo. Thực hiện tốt các chương trình an sinh xã hội hỗ trợ cho hộ nghèo tạo điều kiện thoát nghèo bền vững. Triển khai điều tra rà soát hộ nghèo hàng năm theo quy định, cuối năm 2014 toàn xã có 90/1993 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 4,52%.

Tiêu chí 12 tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên:  Khuyến khích ngư dân mạnh dạn đầu tư chuyển đổi nghề nghiệp sản xuất đánh bắt hải sản ven bờ sang khai thác hải sản xa bờ theo hướng công nghiệp hiện đại; các cơ sở sản xuất TTCN, dịch vụ thương mại cần mở rộng quy mô nhằm thu hút giải quyết việc làm. Tích cực phối hợp các chương trình, dự án để mở các lớp đào tạo nghề cho lao động. Động viên lao động trẻ tham gia các lớp trung học chuyên nghiệp, học nghề vào làm việc tại khu kinh tế Hòn La, các doanh nghiệp trên địa bàn huyện, tỉnh. Toàn xã có 4.077/4.394 lao động trong độ tuổi có việc làm thường xuyên đạt 92,79%. Số lao động còn lại hoạt động ngành nghề theo từng mùa vụ.
         Tiêu chí 13 về hình thức tổ chức sản xuất : Lập Đề án phát triển kinh tế tập thể theo hình thức tổ hợp tác, tổ đoàn kết, cơ sở sản xuất, thành lập các công ty, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả để động viên khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia. Đổi mới, củng cố và nhân rộng mô hình các tổ chức sản xuất, nhất là hoạt động của các tổ hợp tác khai thác hải sản trên biển, hiện nay đã có 26 Tổ đoàn kết, 10 Tổ hợp tác và 44 cơ sở sản xuất tại Làng nghề; đồng thời phát triển đa dạng các hình thái kinh tế ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tổ hợp tác, kinh tế hộ gia đình và doanh nghiệp ở địa phương phát triển.Tổng kinh phí thực hiện: (Nguồn kinh phí của nhân dân).
        Tiêu chí 14 về giáo dục: Phát huy có hiệu quả hoạt động của Hội đồng giáo dục, Hội Khuyến học, Hội Cựu giáo chức và Trung tâm học tập cộng đồng xã. Khuyến khích trẻ em trong độ tuổi đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục trung học, nâng cao tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học.Tăng cường công tác tuyên truyền trong nhân dân; kêu gọi doanh nghiệp phát triển mở rộng sản xuất cùng địa phương trong công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm. Kết quả: Đã đạt công tác phổ cập THCS, tỷ lệ học sinh lớp 9 tốt nghiệp đạt 100%, học lên PTTH đạt 74%, học nghề đạt 12%; tỷ lệ huy động học sinh đến trường của Tiểu học, Mầm Non đạt 100%, tỷ lệ lao động qua đào tạo 2392/4394 người, đạt 54,4%. Chất lượng giáo dục (kiến thức, năng khiếu, đạo đức…) được nâng cao, các trường đều có giáo viên, học sinh đạt giải trong các kỳ thi do Phòng và Sở GDĐT tổ chức.

Tiêu chí 15 y tế: Phát động phong trào xã hội hóa trên lĩnh vực y tế làm cho mọi người nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng và yêu cầu phát triển về y tế. Tiếp tục thực hiện tốt các chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế. Duy trì và nâng cao chất lượng xã đạt chuẩn Quốc gia. Mở rộng các hình thức BHYT. Chú trọng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em, khám chữa bệnh cho người nghèo, người có công. Kết quả: Tỷ lệ người dân tham gia các loại hình bảo hiểm y tế có 6.925/8.629 người,đạt khoảng 80,3%. Hoàn thành trạm y tế 2 tầng đưa vào sử dụng, cơ sở vật chất được đầu tư khang trang, thiết bị đang từng bước được trang cấp, đảm bảo công tác khám chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về ytế, đảm bảo công tác VSMT, phòng chống dịch bệnh và các chương trình phối hợp khác. Trạm Ytế xã đã được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn Quốc gia tại Quyết định số 1030/QĐ - UBND, ngày 28/4/2014. Tổng kinh phí thực hiện: 3.300 triệu đồng (Trạm y tế). Tiêu chí 16 về văn hoá: Đã có 9/9 thôn đạt danh hiệu Làng văn hóa. Có 1765/1993 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa, chiếm tỉ lệ 88,6%. Phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hoá, bài trừ các tệ nạn xã hội đã phát huy hiệu quả, tập trung xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư tiên tiến. Tiếp tục làm tốt công tác bảo tồn, tôn tạo phát huy các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể ở địa phương.
Tiêu chí 17 môi trường: Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong nhân dân. Xử lý rác thải hợp vệ sinh, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đảm bảo các tác động môi trường. Đầu tư nâng cấp Trạm cấp nước sạch đảm bảo nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân, cải tạo hệ thống thoát nước đảm bảo không để ngập úng khi có mưa to, mưa dài ngày trong khu dân cư. Kết quả: Tỷ lệ hộ gia đình được sử dùng nước hợp vệ sinh đạt 100%, trong đó có 92% sử dụng nước từ Trạm cung cấp nước sạch, 08% sử dụng nước từ giếng khơi.
        Các Công ty, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đảm bảo về môi trường. Không có các hoạt động suy giảm môi trường, thực hiện trồng cây xanh ở nơi công cộng.
       Toàn xã có 01 nghĩa trang được quy hoạch, xây dựng tập trung tại một địa điểm xa khu dân cư trên 500 m. Các thôn thành lập các tổ thu gom rác thải, vận chuyển xử lý rác bằng 02 xe ô tô Cửu Long đưa rác về tập kết tại bãi rác tạm của xã. Ngoài ra, đang nâng cấp đầu tư thêm phương tiện, mua thêm 25 thùng đựng rác công cộng và một số phương tiện khác.
Ảnh: Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương
      Tổng kinh phí thực hiện: Trạm cung cấp nước: 5.530 triệu đồng; phương tiện, công cụ thu gom rác: 750 triệu đồng; các nguồn khác từ DN và nhân dân.
       Tiêu chí 18 về hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh: Tổng số cán bộ xã có 23 người đều đã đạt chuẩn theo quy định. Có 14/23 cán bộ, công chức đã hoàn thành trung cấp lý luận chính trị: có: 13 ®/c; S¬ cÊp: 15 ®/c.
         Tr×nh ®é chuyªn m«n :  Đạt chuẩn theo quy định của  NghÞ ®Þnh sè 92/2009/N§ - CP ngµy 22/10/2009 cña ChÝnh Phñ “Hệ thống chính trị đảm bảo theo quy định; Đảng bộ, chính quyền luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được các tổ chức cấp trên công nhận TSVM; Các đoàn thể chính trị đều đạt tiên tiến trở lên. Xây dựng đội ngũ cán bộ đạt tiêu chuẩn theo quy định, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phát huy vai trò của người đứng đầu các tổ chức.

Tiêu chí 19 an ninh: Tình hình AN chính trị, TTATXH trên địa bàn ổn định, không có phạm pháp hình sự, trọng án xảy ra. Lực lượng công an xã đã nêu cao trách nhiệm, đẩy mạnh các giải pháp thực hiện đấu tranh truy quét tội phạm, xử lý các vụ việc kịp thời không để các tình huống xấu xẩy ra, đảm bảo công tác an ninh trên địa bàn. Xây dựng cơ sở an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu, khu vực phòng thủ cững chắc.

Năm 2013, công an xã được công an Tỉnh khen thưởng, năm 2014 UBND xã được UBND tỉnh tặng Bằng khen.

Saturday, May 7, 2016

Sơ lược tình hình địa phương xã Cảnh Dương


1.1. Quá trình thành lập và phát triển
Xã Cảnh Dương thành lập từ năm Quý Mùi (1643), được 7 vị tiên hiền khai khẩn vào lập nghiệp, sinh sống bằng nghề chài lưới. Trải qua quá tŕnh h́nh thành và phát triển 372 năm đến nay làng Cảnh Dương đă có nhiều đổi mới theo ḍng thời gian và lịch sử của dân tộc Việt Nam..
UBND xã được thành lập vào năm 1956, trải qua gần 60 năm phát triển đến nay hệ thống quản lý nhà nước đã được đổi mới, công tác cải cách hành chính có hệ thống đáp ứng với yêu cầu hiện nay.
Ảnh: Phạm Bá Linh - CD
 1.2. Điều kiện tự nhiên, xã hội
            Xã Cảnh Dương là một xã ven biển, không có đất canh tác nông nghiệp, nằm ở phía Bắc huyện Quảng Trạch, có vị trí địa lý:
- Phía Nam giáp xã Quảng Hưng.
- Phía Tây giáp xã Quảng Tùng .
- Phía Bắc giáp sông Roòn ( Ranh giới giữa 2 xã Cảnh Dương và Quảng Phú).
- Phía Đông giáp biển Đông.
 Diện tích đất tự nhiên 152 ha. Dân số toàn xã đến nay có 1.993 hộ với 8.545 khẩu, địa bàn chật hẹp, dân cư đông đúc được chia thành 09 thôn, có 03 thôn Đông Cảng, Yên Hải, Trung Vũ nằm dọc theo tuyến biển Đông, có 3 thôn Đông Dương, Đông Tỉnh, Thượng Giang nằm dọc theo tuyến sông Roòn. Có cửa lạch thuận tiện cho tàu thuyền ra vào khai thác hải sản. Giao thông thuận lợi cả về đường bộ và đường thuỷ, thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá, có chợ Cảnh Dương đáp ứng giao lưu hàng hoá trong cả vùng.

 Là xã thuần ngư có 70% làm nghề khai thác thuỷ sản, toàn xã có 420 tàu thuyền các loại với trên 2.141 lao động nghề cá, số lao động còn lại hoạt động trong lĩnh vực TTCN có chờ́ biến, dịch vụ, thương mại .
Ảnh: Lê Thanh Hải - CD



Lịch sử Đảng bộ xã Cảnh Dương


         Cảnh Dương là một làng quê địa linh nhân kiệt, có truyền thông lịch sử - văn hóa lâu đời, đã góp phần làm nên một trong "Bát danh hương" nổi tiêng của tinh Quảng Bình, được cách ngôn ghi nhận từ lâu đời: "Sơn, Hà, Cảnh, Thổ, Văn, Võ, Cổ, Kim" (Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngọa, Văn La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại). Bao thếhệ con người nơi đây đã kiên gan, bền chí vượt qua biết bao gian nan, thử thách, biếncố, thăng trầm của lịch sử để tạo lập và xây dựng nên quê hương Cảnh Dương như ngày nay.
          Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nhân dân Cảnh Dương đã một lòng đi theo Đảng. Những nhà nho yêu nước, những trí thức có xu hướng tiến bộ đã sớm tiếp thu đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, tiếp thu chủ trương khỏi nghĩa của Mặt trận Việt Minh, cùng cả tỉnh, cả huyện đi đầu đứng lên đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, trên tinh thần tự vũ trang để bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, đồng thời thực hiện Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hổ Chí Minh, Cảnh Dương kiên cường bám đất, rào làng, chiến đấu "Quyết tử giữ làng", chiến đấu toàn dân, toàn diện, trường kỳ, bảo vệ vũng chắc vùng tự do. Cùng phát huy khí thếQuảng Bình quật khởi, Cảng Dương đã đánh tan những đợt càn quét của giặc Pháp, lập nên những chiến công hiển hách trong kháng chiến chống Pháp thắng lọi, được Nhà nước vinh danh "Làng chiến đấu Cảnh Dương". Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Cảnh Dương là một trọng điểm đánh phá ác liệt của giặc Mỹ. Vượt lên tất cả sự tàn khốc của cuộc chiến tranh, cán bộ, đảng viên, nhân dân, những người con của quê hương đã đóng góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Với đơn vị trực chiến của dân quân xã, với phân đội vận tải Đảo La và đặc biệt là đội vận tải VT5 Cảnh Dương, biểu tượng của lòng quả cảm và sự hy sinh đã góp phần cùng quân dân cả nước đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mói - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Phát huy truyền thống của quê hương anh hùng, ngày nay, Đảng bộ và nhân dân Cảnh Dương tiếp tục nỗ lực phân đấu từng bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Việc biên soạn Lịch sử Đảng bộ xã Cảnh Dương nhằm ghi nhận và tỏ lòng tri ân với những công lao, công hiên của cán bộ, đảng viên, nhân dân Cảnh Dương và chiến sĩ ở mọi miền đất nước đã anh dũng chiến đấu, hy sinh trên quê hương Cảnh Dương thân yêu, ghi nhận quá trình đấu tranh, trưởng thành của Đảng bộ và nhân dân qua các thời kỳ cách mạng, rút ra những bài học kinh nghiệm để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, đưa phong trào cách mạng của nhân dân lên một tầm cao mói, xây dựng quê hương Cảnh Dương ngày càng giàu đẹp, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mói đất nước, đó là nguyện vọng tha thiết của Đảng bộ và nhân dân Cảnh Dương.
         Thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TVV ngày 28-8-2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Chỉ thị số 38-CT/TYV ngày 9-8-2010 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Công văn số 41-CV/HU ngày 6-12-2010 của Ban Thường vụ Huyện ủy; Hướng dẫn số 03-HD/TG ngày 13-4-2011 của Ban Tuyên giáo Huyện ủy và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Cảnh Dương lần thứ XXV, Ban Chấp hành Đảng bộ xã Cảnh Dương trong nhiệm kỳ đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo công tác sưu tầm, tổ chức biên soạn để xuất bản cuốn sách Lịch sử Đảng bộ xã Cảnh Dương tập 1 (1930-2000).
Cuốn sách là một công trình nghiên cứu khoa học, công phu, phản ánh trung thực, khách quan quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Cảnh Dương. Công trình nghiên cứu có sự đóng góp tích cực, tâm huyết của nhiều cán bộ, đảng viên từng tham gia qua các thời kỳ lịch sử ở Cảnh Dương, với sự quyết tâm của Ban Chấp hành Đảng bộ và Ban Chỉ đạo, sưu tầm, biên soạn. Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Thường vụ Huyện ủy, sự giúp đỡ tận tình của Ban Tuyên giáo và bộ phận chuyên trách, cuốn sách Lịch sử Đảng bộ xã Cảnh Dương tập 1 (1930-2000)được hoàn thành.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác biên soạn nhưng do nguồn tư liệu thành văn còn thiếu thôn, nhiều nhân chứng lịch sử không còn nên khó tránh khỏi những thiếu sót, Ban Chấp hành Đảng bộ kính mong các cấp lãnh đạo, các bậc lão thành cách mạng, các cán bộ, đảng viên và nhân dân đóng góp ý kiên để lần xuất bản sau nội dung cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Nhân dịp này, Ban Chấp hành Đảng bộ xã Cảnh Dương chân thành cảm ơn Ban Thường vụ Huyện ủy, Ban Tuyên giáo và bộ phận chuyên trách lịch sử Huyện ủy, các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí lãnh đạo tỉnh, huyện, các đồng chí trong tổ sưu tầm tư liệu, biên soạn cuốn sách, cùng các đồng chí, đồng bào đã nhiệt tình giúp đỡ để cuôn sách được ra mắt bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 370 năm ngày thành lập làng Cảnh Dương (1643-2013), hướng tới kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và chào mừng Đại hội Đảng bộ xã Cảnh Dương lần thứ XXVI.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

                                                              BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ CẢNH DƯƠNG
                                                                                               BÍ THƯ
                                                                                        Phạm Đình Tiến

Tiểu sử tác giả Blogger - Cảnh Dương

Tiểu sử tác giả Blogger 
------------------------------------------
Họ và tên đang dùng: PHẠM ANH TÀI                 Giới tính: Nam 
Tác giả Blogger
Các bí danh: không
Sinh ngày 20 tháng 04 năm 1992
Nơi sinh: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nơi ở hiện nay: Thôn Yên Hải, xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Dân tộc:  Kinh                                 Tôn giáo: không
Nghề nghiệp bản thân hiện nay: Cán bộ hợp đồng
Trình độ hiện nay:
- Giáo dục phổ thông:12/12.
- Giáo dục nghề nghiệp:................................................
- Giáo dục đại học và sau đại học:................................
- Học hàm:.....................................................................
- Lý luận chính trị: .......................................................
- Ngoại ngữ: Chứng chỉ Anh văn chứng chỉ B
- Tin học: Chứng chỉ Tin học chứng chỉ B
- Tiếng dân tộc thiểu số: ................................................
Ngày và nơi KN vào TNCSHCM: 05/05/2008 tại trường trung học cơ sở Cảnh Dương.
Ngày và nơi vào Đảng CSVN lần thứ nhất (nếu có):
Ngày và nơi công nhận chính thức lần thứ nhất (nếu có):
Người giới thiệu vào Đảng lần thứ nhất (nếu có):
1. Võ Danh Vinh - Đảng viên chi bộ thôn Yên Hải
2. .......................................................................................................
LỊCH SỬ BẢN THÂN
-           Lúc còn nhỏ ở nhà cùng với cha mẹ.
-           Từ 2000 – 2005: Là học sinh trường tiểu học Cảnh Dương
-           Từ 2005 – 2008: Là học sinh trường trung học cơ sở Cảnh Dương
-           Từ 2008 – 2010: Là học sinh trường trung học phổ thông số 3 Quảng Trạch
-           Từ 2010 – 2011: Là sinh viên trường Đại học Phú Xuân Huế
-           Từ 2011 – 2015: Là sinh viên trường Đại học Luật - Đại học Huế
-           Từ 2015 –  : Cán bộ hợp đồng làm việc tại Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương.

NHỮNG CÔNG TÁC VÀ CHỨC VỤ ĐÃ QUA
Từ 2011 – 2015: Học tại trường Đại học Luật – Đại học Huế
 Từ tháng 9/2015 -  đến nay: Cán bộ công chức làm việc tại Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương
HOÀN CẢNH GIA ĐÌNH
1.Cha đẻ:
Họ và tên: PHẠM THANH BÌNH
Năm sinh: 1966
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Đánh cá
Trước cách mạng tháng 8/1945: Chưa sinh
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Từ 1966 - 1973: Còn nhỏ phụ thuộc vào gia đình.
Từ 1973 - 1981: Học tập tại trường cấp 1, cấp 2 Cảnh Dương, Quảng Trạch, Quảng Bình.
Từ 1981 - 1983: Học tại trường cấp 3 - Bắc Quảng Bình
Từ 1984 - 1986: Tham gia bộ đội Biên phong tại cửa biển Thuận An – Huế.
Hiện nay, tham gia đánh bắt cá tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Là hội viên hội Ngư dân
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
2.Mẹ đẻ:
Họ và tên: TRƯƠNG THỊ PHÚ
Năm sinh: 1972
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Buôn bán
Trước cách mạng tháng 8/1945: Chưa sinh
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Từ 1972 - 1980: Còn nhỏ phụ thuộc vào gia đình.
Từ 1980 - 1985: Học tập tại trường cấp 1, cấp 2 Cảnh Dương, Quảng Trạch, Quảng Bình.
Năm 1992 lập gia đình và làm nghề buôn bán. Là hội viên hội Phụ nữ
Năm 2013, Mẹ bị bệnh mất tại quê nhà.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
3.Em trai ruột:
Họ và tên: PHẠM NGỌC ĐỨC
Năm sinh: 1994
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Đánh cá
Từ 1994 - 2000: Còn nhỏ phụ thuộc vào gia đình.
Từ 2000 - 2005: Học tập tại Trường tiểu học Cảnh Dương.
Từ 2005 - 2008: Học tập tại Trường trung học Cảnh Dương.
Hiện nay, phụ giúp gia đình đánh bắt cá tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
4.Em gái ruột:
Họ và tên: PHẠM THỊ THẢO
Năm sinh: 1998
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Buôn bán
Từ 1998 - 2004: Còn nhỏ phụ thuộc vào gia đình.
Từ 2004 - 2009: Học tập tại Trường tiểu học Cảnh Dương.
Từ 2009 - 2013: Học tập tại Trường trung học Cảnh Dương.
Hiện nay, phụ giúp gia đình đánh bắt cá tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
5.Ông nội:
Họ và tên: PHẠM NGỌC QUANG
Năm sinh: 1930
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Thợ thủ công
Trước cách mạng tháng 8/1945: Phụ thuộc vào gia đình.
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Tham gia hoạt động vào đội du kích xã Cảnh Dương, là đội trưởng đội du kích. Được kết nạp Đảng viên vào năm 1946.
Sau đó tiếp tục tham gia phong trào văn hóa dạy bình dân học vụ ở xã được cấp trên tặng nhiều bằng khen và giấy khen.
Sau kháng chiến chuyển sang làm cán bộ ty giao thông vẫn tải đường biển tỉnh Quảng Bình giữ chức vụ thuyền phó.
Đã hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ kháng chiến chống mỹ cứu nước ngày 25/12/1967.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
6.Bà nội:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ MỸ
Năm sinh: 1932
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Buôn bán
Trước cách mạng tháng 8/1945: Phụ thuộc vào gia đình.
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Tham gia vào các hoạt động ở địa phương, hưởng ứng các phong trào văn hóa và vận chuyển lương thực cho bộ đội.
Từ sau hòa bình lập lại đã tham gia vào Hợp tác xã thủ công nghiệp. Tổ trưởng tổ sản xuất gạch ngói Tân Tiến xã Cảnh Dương.
Là hội viên hội phụ nữ, hội viên hội người cao tuổi.
Năm 2013, bà mất tại quê nhà.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
7.Ông ngoại:
Họ và tên: TRƯƠNG VĂN PHỤNG
Năm sinh: 1940
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Thợ thủ công
Trước cách mạng tháng 8/1945: Phụ thuộc vào gia đình.
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Tham gia hoạt động ở địa phương, chuyển gạo tiếp tế lương thực cho bộ đội.
Năm 1962, lập gia đình và làm ăn, sinh sống tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Là hội viên hội người cao tuổi.
Năm 2011, ông mất tại quê nhà.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
8.Bà ngoại:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ LẠI
Năm sinh: 1942
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Buôn bán
Trước cách mạng tháng 8/1945: Phụ thuộc vào gia đình.
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Tham gia vào các hoạt động ở địa phương, hưởng ứng các phong trào văn hóa và vận chuyển lương thực cho bộ đội.
Năm 1962, lập gia đình và làm ăn, sinh sống tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Là hội viên hội người cao tuổi.
Là hội viên hội phụ nữ, hội viên hội người cao tuổi.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.


Monday, November 24, 2014

Các thôn ở xã Cảnh Dương

Bài viết về các thôn ở Cảnh Dương sẽ cập nhật sau...

Thôn ở Cảnh Dương




















Friday, November 21, 2014

Cá ông, cá bà - Sự thật của một huyền thoại ở Cảnh Dương

Ở vùng biển xã Cảnh Dương (Quảng Trạch, Quảng Bình) tồn tại một ngôi miếu thờ cá voi, cùng những di tích xương và khu nghĩa địa cá, như minh chứng hùng hồn cho những truyền thuyết về cá ông vẫn được các ngư dân truyền tụng đầy kính cẩn.
Lịch sử Ngư Linh Miếu
Xã Cảnh Dương là một vùng đất ven biển thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Người dân ở đây quanh năm sống bằng nghề biển và những câu chuyện có tính chất nửa hoang đường-truyền thuyết nửa có thật về cá voi vẫn tồn tại hàng trăm năm nay trong tâm thức của họ.
Chuyện về cá ông, cá bà là câu chuyện về những con cá voi đực, cá voi cái mà người dân vẫn hay gặp khi họ hành nghề đánh cá trên biển. Truyền thuyết bắt nguồn từ những câu chuyện ngư dân đi đánh cá gặp nạn trên biển đã được những cá voi cứu sống và đưa vào bờ. Từ đó những tên gọi tôn kính cá ông, cá bà đã hình thành.
Cốt cá ông, cá bà được thờ trong Ngư Linh Miếu.
Theo chân ông Phạm Quốc Hồng, thường trực Hội ngư dân xã Cảnh Dương, chúng tôi tìm đến miếu thờ cá voi có tên gọi “Ngư Linh Miếu”. Ngôi miếu có tuổi thọ đã hàng trăm năm nay vẫn được ngư dân hàng năm đều đặn đến thắp hương thờ cúng, khẩn cầu những điều tốt lành. Trong miếu, ngay gian thờ chính diện, trước mắt chúng tôi là những khối xương cá khổng lồ. Trải qua hàng trăm năm, chịu bao nắng, mưa, gió, cát những khối xương này đã phần nào bị bào mòn, mục nát. Hai bộ xương cá ông, cá bà nằm hai bên bàn thờ, được phủ vải điều rất trang trọng. Xương sườn cao khoảng 4 đến 4,5m, xương đốt sống lưng có đường kín khoảng 40cm... Ông Hồng nói, khi còn sống, mỗi con cá voi này có thể nặng hàng trăm tấn (?).
Theo tương truyền từ các bản ghi chép tay của một số người và các bậc cao niên kể lại, cá bà vào trước cá ông. Theo gia phả Tây Trung Họ Trương (còn gọi là Trương Trung Tây Gia Phả) thì cá bà vào vùng biển này năm Kỷ Tỵ (năm 1809) đời Gia Long thứ 9; cá ông và năm Đinh Mùi (năm 1907) đời Duy Tân thứ 16. Người dân đã chôn cất, thờ phụng và tôn làm cá ông, cá bà và xây miếu thờ từ đó đến nay.
Hàng trăm năm qua, Ngư Linh Miếu được xây đi xây lại nhiều lần. Thời chiến tranh chống Mỹ, Ngư Linh Miếu bị bom Mỹ tàn phá. Các cụ bô lão cùng UBND xã đã đưa di cốt cá ông, cá bà vào trong đình làng để cất giữ. Cách đây 10 năm, có hai người khách nước ngoài tìm về đây, tới đình thấy hai bộ xương cá voi nằm dưới đất, mục nát vì mưa nắng thời gian thì lắc đầu nuối tiếc. Sau đó, chính quyền địa phương và nhân dân đã quyên góp một số tiền để xây dựng lại miếu thờ. Năm 2006-2007, làng, xã đã tổ chức rước cốt cá ông cá bà vào Ngư Linh Miếu thờ phụng. Ông Hồ Quang Hường, Phó chủ tịch hội ngư dân xã cho biết, từ ngày làm miếu thờ, ngư dân làm ăn phát đạt, tốt lành.
Bộ cốt khổng lồ của cá ông.
Ngày 15/11(âm lịch) hàng năm là ngày giỗ cá ông, cá bà, người dân vạn chài ở trong vùng cũng về dự lễ. Vào ngày giỗ cá cũng là ngày giỗ cửa (mở lạch) dân chài bắt đầu đi đánh cá, những người vận tải biển cũng lên đường làm ăn.
Ông Hường còn cho biết thêm: “Ngoài những di cốt và đền thờ Cảnh Dương, tôi còn biết ở Thanh Khê (Quảng Bình) cũng có một đền thờ của một con cá voi nhỏ hơn, ở Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) cũng có một đền thờ cá ông, cá bà...”
Nghĩa địa cá
Chúng tôi lại theo chân ông Hồng đến khu nghĩa địa cá nằm cách Ngư Linh Miếu khoảng 2 km. Khu đất trống trãi nằm trên cát nơi cá bà đã trôi dạt vào và chết cách đây hàng trăm năm có một ngôi miếu nhỏ được người dân xây dựng gọi là “Miếu Bà”. Tại đây, ngoài miếu bà ra xung quanh còn có 17 ngôi mộ cá khác. Một bãi nghĩa địa linh thiêng của người dân biển, những ngôi mộ chỉ đắp bằng những ụ đất nằm chống chọi với gió cát, hằng năm họ lại trùng tu nhang khói.
Ông Hồng nói với giọng rất tôn kính: “Đây là những cá cô, cá cậu vào chầu (những loại cá lớn chết ở bãi biển- PV) đức ông, đức bà và được chôn cất tại đây”. Mỗi con cá lớn trôi vào đây đều được bà con chôn cất và gắn cho những câu chuyện riêng để truyền tai nhau, kể cho con cháu nghe, truyền từ đời này sang đời khác.
Phía ngoài Ngư Linh Miếu.
Con cá voi mới bị chết và trôi dạt vào bờ biển Cảnh Dương ngày 26/2/2009 vừa qua cũng có câu chuyện riêng của nó. Ông Hồng kể: “Vào ngày 25/2 vừa qua, tự nhiên có một con cá ông voi dài khoảng 4,3m, nặng 4 -5 tạ đang sống, dạt vào bãi biển xã Cảnh Dương. Lúc 13 giờ ngày 25/2 cá voi ông vào mắc cạn, lúc đó nhân dân cho 5 ngư dân đẩy cá ra khơi, cá voi đã bơi quanh bãi biển vài lần thì biến mất. Khoảng 4 giờ sáng ngày 26/2, lúc đó mực nước cao nhất thì cá voi lại vào ngay chỗ cũ và đã chết. Các đồng chí lãnh đạo xã và hội ngư dân đã xem xét và biết đây là một con cá voi cái”. Chính ông Hồng trực tiếp xem xét và tôn kính nói: “Đây là cá cô vào chầu đức ông, đức bà”.
Sau đó, ngư dân đã tổ chức đưa xác cá lên Ngư Linh Miếu để thờ cúng. Ông Hường kể, “theo phong tục địa phương thì những loài cá giống như cá ông, cá bà mà bị chết thì được khâm liệm và mai táng như con người”. Ông Hồng nói, con cá này rất lạ, khi chết nó không có mùi tanh, hôi, không bị ruồi bâu và ở hai bên hông con cá có hai hàng chữ, mỗi bên 6 chữ, không phải chữ Việt Nam, cũng không phải chữ Trung Quốc.
Nghĩa địa cá voi.
Người dân ở đây cho rằng Cảnh Dương là một vùng đất lành nên cá voi vào đây chầu đức ông, đức bà và chọn nơi đây làm nơi nương tựa mà chết. Đây là một điều rất tốt lành cho một năm làm ăn may mắn.

Chia tay tôi, ông Hồng nhắn nhủ thêm: “Chúng tôi chỉ có một mong ước nhỏ nhoi là làm sao xây dựng và tôn tạo lại ngôi đền và khu mộ cá linh thiêng, để tránh gió cát. Nếu có điều kiện phát triển thành một điểm tham quan cho mọi người đến tìm hiểu thì sẽ rất tốt”.