Sponsors

Giới Thiệu

Saturday, May 7, 2016

Tiểu sử tác giả Blogger - Cảnh Dương

Tiểu sử tác giả Blogger 
------------------------------------------
Họ và tên đang dùng: PHẠM ANH TÀI                 Giới tính: Nam 
Tác giả Blogger
Các bí danh: không
Sinh ngày 20 tháng 04 năm 1992
Nơi sinh: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nơi ở hiện nay: Thôn Yên Hải, xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Dân tộc:  Kinh                                 Tôn giáo: không
Nghề nghiệp bản thân hiện nay: Cán bộ hợp đồng
Trình độ hiện nay:
- Giáo dục phổ thông:12/12.
- Giáo dục nghề nghiệp:................................................
- Giáo dục đại học và sau đại học:................................
- Học hàm:.....................................................................
- Lý luận chính trị: .......................................................
- Ngoại ngữ: Chứng chỉ Anh văn chứng chỉ B
- Tin học: Chứng chỉ Tin học chứng chỉ B
- Tiếng dân tộc thiểu số: ................................................
Ngày và nơi KN vào TNCSHCM: 05/05/2008 tại trường trung học cơ sở Cảnh Dương.
Ngày và nơi vào Đảng CSVN lần thứ nhất (nếu có):
Ngày và nơi công nhận chính thức lần thứ nhất (nếu có):
Người giới thiệu vào Đảng lần thứ nhất (nếu có):
1. Võ Danh Vinh - Đảng viên chi bộ thôn Yên Hải
2. .......................................................................................................
LỊCH SỬ BẢN THÂN
-           Lúc còn nhỏ ở nhà cùng với cha mẹ.
-           Từ 2000 – 2005: Là học sinh trường tiểu học Cảnh Dương
-           Từ 2005 – 2008: Là học sinh trường trung học cơ sở Cảnh Dương
-           Từ 2008 – 2010: Là học sinh trường trung học phổ thông số 3 Quảng Trạch
-           Từ 2010 – 2011: Là sinh viên trường Đại học Phú Xuân Huế
-           Từ 2011 – 2015: Là sinh viên trường Đại học Luật - Đại học Huế
-           Từ 2015 –  : Cán bộ hợp đồng làm việc tại Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương.

NHỮNG CÔNG TÁC VÀ CHỨC VỤ ĐÃ QUA
Từ 2011 – 2015: Học tại trường Đại học Luật – Đại học Huế
 Từ tháng 9/2015 -  đến nay: Cán bộ công chức làm việc tại Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương
HOÀN CẢNH GIA ĐÌNH
1.Cha đẻ:
Họ và tên: PHẠM THANH BÌNH
Năm sinh: 1966
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Đánh cá
Trước cách mạng tháng 8/1945: Chưa sinh
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Từ 1966 - 1973: Còn nhỏ phụ thuộc vào gia đình.
Từ 1973 - 1981: Học tập tại trường cấp 1, cấp 2 Cảnh Dương, Quảng Trạch, Quảng Bình.
Từ 1981 - 1983: Học tại trường cấp 3 - Bắc Quảng Bình
Từ 1984 - 1986: Tham gia bộ đội Biên phong tại cửa biển Thuận An – Huế.
Hiện nay, tham gia đánh bắt cá tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Là hội viên hội Ngư dân
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
2.Mẹ đẻ:
Họ và tên: TRƯƠNG THỊ PHÚ
Năm sinh: 1972
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Buôn bán
Trước cách mạng tháng 8/1945: Chưa sinh
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Từ 1972 - 1980: Còn nhỏ phụ thuộc vào gia đình.
Từ 1980 - 1985: Học tập tại trường cấp 1, cấp 2 Cảnh Dương, Quảng Trạch, Quảng Bình.
Năm 1992 lập gia đình và làm nghề buôn bán. Là hội viên hội Phụ nữ
Năm 2013, Mẹ bị bệnh mất tại quê nhà.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
3.Em trai ruột:
Họ và tên: PHẠM NGỌC ĐỨC
Năm sinh: 1994
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Đánh cá
Từ 1994 - 2000: Còn nhỏ phụ thuộc vào gia đình.
Từ 2000 - 2005: Học tập tại Trường tiểu học Cảnh Dương.
Từ 2005 - 2008: Học tập tại Trường trung học Cảnh Dương.
Hiện nay, phụ giúp gia đình đánh bắt cá tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
4.Em gái ruột:
Họ và tên: PHẠM THỊ THẢO
Năm sinh: 1998
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Buôn bán
Từ 1998 - 2004: Còn nhỏ phụ thuộc vào gia đình.
Từ 2004 - 2009: Học tập tại Trường tiểu học Cảnh Dương.
Từ 2009 - 2013: Học tập tại Trường trung học Cảnh Dương.
Hiện nay, phụ giúp gia đình đánh bắt cá tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
5.Ông nội:
Họ và tên: PHẠM NGỌC QUANG
Năm sinh: 1930
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Thợ thủ công
Trước cách mạng tháng 8/1945: Phụ thuộc vào gia đình.
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Tham gia hoạt động vào đội du kích xã Cảnh Dương, là đội trưởng đội du kích. Được kết nạp Đảng viên vào năm 1946.
Sau đó tiếp tục tham gia phong trào văn hóa dạy bình dân học vụ ở xã được cấp trên tặng nhiều bằng khen và giấy khen.
Sau kháng chiến chuyển sang làm cán bộ ty giao thông vẫn tải đường biển tỉnh Quảng Bình giữ chức vụ thuyền phó.
Đã hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ kháng chiến chống mỹ cứu nước ngày 25/12/1967.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
6.Bà nội:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ MỸ
Năm sinh: 1932
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Buôn bán
Trước cách mạng tháng 8/1945: Phụ thuộc vào gia đình.
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Tham gia vào các hoạt động ở địa phương, hưởng ứng các phong trào văn hóa và vận chuyển lương thực cho bộ đội.
Từ sau hòa bình lập lại đã tham gia vào Hợp tác xã thủ công nghiệp. Tổ trưởng tổ sản xuất gạch ngói Tân Tiến xã Cảnh Dương.
Là hội viên hội phụ nữ, hội viên hội người cao tuổi.
Năm 2013, bà mất tại quê nhà.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
7.Ông ngoại:
Họ và tên: TRƯƠNG VĂN PHỤNG
Năm sinh: 1940
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Thợ thủ công
Trước cách mạng tháng 8/1945: Phụ thuộc vào gia đình.
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Tham gia hoạt động ở địa phương, chuyển gạo tiếp tế lương thực cho bộ đội.
Năm 1962, lập gia đình và làm ăn, sinh sống tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Là hội viên hội người cao tuổi.
Năm 2011, ông mất tại quê nhà.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
8.Bà ngoại:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ LẠI
Năm sinh: 1942
Quê quán: Xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Nghề nghiệp: Buôn bán
Trước cách mạng tháng 8/1945: Phụ thuộc vào gia đình.
Sau cách mạng tháng 8/1945:
Tham gia vào các hoạt động ở địa phương, hưởng ứng các phong trào văn hóa và vận chuyển lương thực cho bộ đội.
Năm 1962, lập gia đình và làm ăn, sinh sống tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Là hội viên hội người cao tuổi.
Là hội viên hội phụ nữ, hội viên hội người cao tuổi.
Bản thân luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.


Monday, November 24, 2014

Các thôn ở xã Cảnh Dương

Bài viết về các thôn ở Cảnh Dương sẽ cập nhật sau...

Thôn ở Cảnh Dương




















Friday, November 21, 2014

Cá ông, cá bà - Sự thật của một huyền thoại ở Cảnh Dương

Ở vùng biển xã Cảnh Dương (Quảng Trạch, Quảng Bình) tồn tại một ngôi miếu thờ cá voi, cùng những di tích xương và khu nghĩa địa cá, như minh chứng hùng hồn cho những truyền thuyết về cá ông vẫn được các ngư dân truyền tụng đầy kính cẩn.
Lịch sử Ngư Linh Miếu
Xã Cảnh Dương là một vùng đất ven biển thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Người dân ở đây quanh năm sống bằng nghề biển và những câu chuyện có tính chất nửa hoang đường-truyền thuyết nửa có thật về cá voi vẫn tồn tại hàng trăm năm nay trong tâm thức của họ.
Chuyện về cá ông, cá bà là câu chuyện về những con cá voi đực, cá voi cái mà người dân vẫn hay gặp khi họ hành nghề đánh cá trên biển. Truyền thuyết bắt nguồn từ những câu chuyện ngư dân đi đánh cá gặp nạn trên biển đã được những cá voi cứu sống và đưa vào bờ. Từ đó những tên gọi tôn kính cá ông, cá bà đã hình thành.
Cốt cá ông, cá bà được thờ trong Ngư Linh Miếu.
Theo chân ông Phạm Quốc Hồng, thường trực Hội ngư dân xã Cảnh Dương, chúng tôi tìm đến miếu thờ cá voi có tên gọi “Ngư Linh Miếu”. Ngôi miếu có tuổi thọ đã hàng trăm năm nay vẫn được ngư dân hàng năm đều đặn đến thắp hương thờ cúng, khẩn cầu những điều tốt lành. Trong miếu, ngay gian thờ chính diện, trước mắt chúng tôi là những khối xương cá khổng lồ. Trải qua hàng trăm năm, chịu bao nắng, mưa, gió, cát những khối xương này đã phần nào bị bào mòn, mục nát. Hai bộ xương cá ông, cá bà nằm hai bên bàn thờ, được phủ vải điều rất trang trọng. Xương sườn cao khoảng 4 đến 4,5m, xương đốt sống lưng có đường kín khoảng 40cm... Ông Hồng nói, khi còn sống, mỗi con cá voi này có thể nặng hàng trăm tấn (?).
Theo tương truyền từ các bản ghi chép tay của một số người và các bậc cao niên kể lại, cá bà vào trước cá ông. Theo gia phả Tây Trung Họ Trương (còn gọi là Trương Trung Tây Gia Phả) thì cá bà vào vùng biển này năm Kỷ Tỵ (năm 1809) đời Gia Long thứ 9; cá ông và năm Đinh Mùi (năm 1907) đời Duy Tân thứ 16. Người dân đã chôn cất, thờ phụng và tôn làm cá ông, cá bà và xây miếu thờ từ đó đến nay.
Hàng trăm năm qua, Ngư Linh Miếu được xây đi xây lại nhiều lần. Thời chiến tranh chống Mỹ, Ngư Linh Miếu bị bom Mỹ tàn phá. Các cụ bô lão cùng UBND xã đã đưa di cốt cá ông, cá bà vào trong đình làng để cất giữ. Cách đây 10 năm, có hai người khách nước ngoài tìm về đây, tới đình thấy hai bộ xương cá voi nằm dưới đất, mục nát vì mưa nắng thời gian thì lắc đầu nuối tiếc. Sau đó, chính quyền địa phương và nhân dân đã quyên góp một số tiền để xây dựng lại miếu thờ. Năm 2006-2007, làng, xã đã tổ chức rước cốt cá ông cá bà vào Ngư Linh Miếu thờ phụng. Ông Hồ Quang Hường, Phó chủ tịch hội ngư dân xã cho biết, từ ngày làm miếu thờ, ngư dân làm ăn phát đạt, tốt lành.
Bộ cốt khổng lồ của cá ông.
Ngày 15/11(âm lịch) hàng năm là ngày giỗ cá ông, cá bà, người dân vạn chài ở trong vùng cũng về dự lễ. Vào ngày giỗ cá cũng là ngày giỗ cửa (mở lạch) dân chài bắt đầu đi đánh cá, những người vận tải biển cũng lên đường làm ăn.
Ông Hường còn cho biết thêm: “Ngoài những di cốt và đền thờ Cảnh Dương, tôi còn biết ở Thanh Khê (Quảng Bình) cũng có một đền thờ của một con cá voi nhỏ hơn, ở Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) cũng có một đền thờ cá ông, cá bà...”
Nghĩa địa cá
Chúng tôi lại theo chân ông Hồng đến khu nghĩa địa cá nằm cách Ngư Linh Miếu khoảng 2 km. Khu đất trống trãi nằm trên cát nơi cá bà đã trôi dạt vào và chết cách đây hàng trăm năm có một ngôi miếu nhỏ được người dân xây dựng gọi là “Miếu Bà”. Tại đây, ngoài miếu bà ra xung quanh còn có 17 ngôi mộ cá khác. Một bãi nghĩa địa linh thiêng của người dân biển, những ngôi mộ chỉ đắp bằng những ụ đất nằm chống chọi với gió cát, hằng năm họ lại trùng tu nhang khói.
Ông Hồng nói với giọng rất tôn kính: “Đây là những cá cô, cá cậu vào chầu (những loại cá lớn chết ở bãi biển- PV) đức ông, đức bà và được chôn cất tại đây”. Mỗi con cá lớn trôi vào đây đều được bà con chôn cất và gắn cho những câu chuyện riêng để truyền tai nhau, kể cho con cháu nghe, truyền từ đời này sang đời khác.
Phía ngoài Ngư Linh Miếu.
Con cá voi mới bị chết và trôi dạt vào bờ biển Cảnh Dương ngày 26/2/2009 vừa qua cũng có câu chuyện riêng của nó. Ông Hồng kể: “Vào ngày 25/2 vừa qua, tự nhiên có một con cá ông voi dài khoảng 4,3m, nặng 4 -5 tạ đang sống, dạt vào bãi biển xã Cảnh Dương. Lúc 13 giờ ngày 25/2 cá voi ông vào mắc cạn, lúc đó nhân dân cho 5 ngư dân đẩy cá ra khơi, cá voi đã bơi quanh bãi biển vài lần thì biến mất. Khoảng 4 giờ sáng ngày 26/2, lúc đó mực nước cao nhất thì cá voi lại vào ngay chỗ cũ và đã chết. Các đồng chí lãnh đạo xã và hội ngư dân đã xem xét và biết đây là một con cá voi cái”. Chính ông Hồng trực tiếp xem xét và tôn kính nói: “Đây là cá cô vào chầu đức ông, đức bà”.
Sau đó, ngư dân đã tổ chức đưa xác cá lên Ngư Linh Miếu để thờ cúng. Ông Hường kể, “theo phong tục địa phương thì những loài cá giống như cá ông, cá bà mà bị chết thì được khâm liệm và mai táng như con người”. Ông Hồng nói, con cá này rất lạ, khi chết nó không có mùi tanh, hôi, không bị ruồi bâu và ở hai bên hông con cá có hai hàng chữ, mỗi bên 6 chữ, không phải chữ Việt Nam, cũng không phải chữ Trung Quốc.
Nghĩa địa cá voi.
Người dân ở đây cho rằng Cảnh Dương là một vùng đất lành nên cá voi vào đây chầu đức ông, đức bà và chọn nơi đây làm nơi nương tựa mà chết. Đây là một điều rất tốt lành cho một năm làm ăn may mắn.

Chia tay tôi, ông Hồng nhắn nhủ thêm: “Chúng tôi chỉ có một mong ước nhỏ nhoi là làm sao xây dựng và tôn tạo lại ngôi đền và khu mộ cá linh thiêng, để tránh gió cát. Nếu có điều kiện phát triển thành một điểm tham quan cho mọi người đến tìm hiểu thì sẽ rất tốt”.


Lễ hội bơi thuyền ở xã Cảnh Dương


Năm 2013 kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, hướng tới kỷ niệm 370 năm ngày thành lập làng. Sau hơn một tháng tập luyện và chuẩn bị, ngày 19/8/2008 xã Cảnh Dương đã tổ chức thành công Lễ hội Bơi thuyền Truyền thống năm 2014.
Về Quảng Trạch - Quảng Bình, có dịp dừng chân trên chiếc cầu Roòn vươn mình giữa con sông Loan thơ mộng, hướng tầm mắt hoặc ống kính về phía Đông Nam, bạn sẽ bắt gặp một làng quê trù phú, tàu thuyền đông đúc, đó là xã Cảnh Dương, một địa danh giàu truyền thống cách mạng, phong phú về di sản văn hoá vật thể và phi vật thể. Trải qua 370 năm khai tạo, nơi đây “phong vũ thuận hoà, sơn thuỷ hữu tình, địa linh nhân kiệt” (Hương phả cổ làng Cảnh Dương).


Năm 2013 kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, hướng tới kỷ niệm 370 năm ngày thành lập làng. Sau hơn một tháng tập luyện và chuẩn bị, ngày 19/8/2008 xã Cảnh Dương đã tổ chức thành công Lễ hội Bơi thuyền Truyền thống năm 2014.

Chương trình gồm có tổ chức mít-tinh kỷ niệm tại xã, dạ hội văn nghệ ở các thôn, dâng hương viếng nghĩa trang liệt sỹ, đình thờ Tổ, Ngư Linh Miếu và phát động đua thuyền. Tham gia tranh tài trên 4 thuyền đua gồm 100 ngư dân có sức khoẻ tốt được lựa chọn từ các thôn.


Cuộc đua được tổ chức thành 4 lượt, buổi sáng 2 lượt, chiều 2 lượt, hành trình mỗi lượt là 4km. Mặc dù thời tiết không được thuận lợi nhưng các vận động viên đã thi đấu rất nhiệt tình. Hàng nghìn khán giả trong và ngoài xã đã về bãi biển Cảnh Dương để xem và cổ vũ các lượt bơi. Giải Nhất năm nay thuộc về chải màu Đỏ của hai thôn Cảnh Thượng - Trung Vũ, Giải Nhì thuộc chải Xanh thôn Yên Hải và Liên Trung các đơn vị khác dành Giải Ba và Giải phong cách.


Được giữ gìn hàng trăm năm, trở thành món ăn tinh thần của người dân và có sức hút lớn đối với du khách. Thi bơi thuyền ở Cảnh Dương là một Lễ hội truyền thống được giữ gìn, phát huy qua nhiều thế hệ, thường được tổ chức vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng 8 và quốc khánh 2-9.

Theo cách nói của bà con là để chào mừng ngày Tết độc lập. Háo hức nhất là một tháng luyện tập và chuẩn bị, ngày bơi thuyền cả làng náo nhiệt, rộn rã, ai nấy quên cả ăn uống để thưởng thức đua thuyền.

Các bà các chị áo quần ướt dầm thi nhau vẫy nón reo hò cổ vũ các đội bơi. Du khách gần xa tới đây cùng hoà chung trong sự náo nức mê say đến mãn cuộc vẫn chẳng muốn về.


Kết thúc hội bơi, dư âm của nó sẽ còn là đề tài sôi nổi cho mọi người đến cả tháng sau.

Trong chương trình các hoạt động kỷ niệm 365 năm ngày thành lập làng, tổ chức thành công lễ hội bơi thuyền năm nay, một lần nữa cô bác ở địa phương tiếp tục khẳng định và giữ gìn môn thể thao văn hóa đầy tính nhân văn này.



Từ đâu hai tiếng Cảnh Dương
Từ ai khai tạo quê hương buổi đầu
Ba trăm sáu lăm năm sau
Cháu con đoàn kết tiếp nhau giữ gìn

Giữ gìn lễ hội bơi thuyền cũng chính là trân trọng và phát huy những giá trị truyền thống quý báu mà các thế hệ tiền bối đã sáng tạo nên trong quá trình khai khẩn, kiến lập quê hương.

Đối với những người đi xa, khi nhớ về quê hương không thể nào quên được những mùa lễ hội của quê nhà, chính đó là những ấn tượng đẹp đẽ để dù ở nơi nào chúng ta luôn tự hào và mến nhớ về quê hương.

Cảnh Dương - Nơi nhạc sỹ Hoàng Vân đã cảm mến mở đầu cho ca khúc của ông: “Từ quê hương em, điệu hò khoan".
 Nguồn sưu tầm








Zing Blog







Zing Blog

Kỷ niệm 370 năm thành lập làng Cảnh Dương


Ngày 22-12, xã Cảnh Dương (Quảng Trạch) tổ chức lễ kỷ niệm 370 năm thành lập làng (1643-2013).

Sau gần bốn thế kỷ hình thành và phát triển, Cảnh Dương đã trở thành một địa danh nổi tiếng với nền văn hóa phong phú, mang đậm sắc thái của người vùng biển và là vùng đất có truyền thống yêu nước, quật cường trong đánh giặc và giữ nước.
Với những bề dày thành tích đó, Cảnh Dương đã có mặt trong “Bát danh hương” của tỉnh. Trong kháng chiến chống Pháp, người Cảnh Dương kiên cường bám đất, rào làng chiến đấu, trở thành “Làng chiến đấu kiểu mẫu”. Kháng chiến chống Mỹ, chính quyền và nhân dân nơi đây lại tiếp tục lập nên nhiều chiến công vang dội, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc. Phát huy truyền thống vẻ vang của cha anh, ngày nay, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Cảnh Dương tiếp tục nỗ lực sản xuất, chung tay xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp...
Tại lễ kỷ niệm, đại diện chính quyền và các đoàn thể, con em địa phương đã dâng hương lên Đình thờ tổ. Lễ dâng hương diễn ra trong không khí trang nghiêm. Tiếp sau đó là lễ diễu hành của 20 đoàn, đại diện cho các tổ chức đoàn thể, khu dân cư và các thế hệ người dân.
Cũng trong dịp này, Ban chấp hành Đảng bộ xã đã phát hành tập 1 cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã Cảnh Dương (1930-2000) do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.
N.Mai

Về thăm lại làng Cảnh Dương năm xưa


Làng biển Cảnh Dương (huyện Quảng Trạch) xưa kia nổi tiếng là làng văn vật trong "Bát danh hương", làng chiến đấu kiểu mẫu trong kháng chiến chống Pháp... Ngày nay, Cảnh Dương tự hào là một trong những điểm sáng trong công cuộc xây dựng, phát triển quê hương giàu đẹp, xứng đáng với truyền thống anh hùng vẻ vang của làng.
Hào khí Cách mạng Tháng Tám xưa...
Ngày 21-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban Khởi nghĩa, nhân dân Cảnh Dương đã khởi nghĩa cướp chính quyền. Cách mạng Tháng Tám 1945  thành công, hưởng ứng "Tuần lễ đồng", “Tuần lễ vàng” và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cảnh Dương đã phát động phong trào tăng gia sản xuất, thực hiện tiết kiệm, vận động tài gia lạc quyên ủng hộ được 22 vạn tiền, 16 kg vàng, 323 kg đồng... Khi thực dân Pháp đánh chiếm Quảng Bình, nhân dân Cảnh Dương già trẻ, gái trai lại bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Để ngăn tàu địch đánh vào cửa biển, nhân dân Cảnh Dương đã tiến hành ngăn sông Roòn bằng cách nhấn chìm 28 chiếc ghe từ 20 đến 60 tấn được sắp đá, kè từ đầu làng sang đến bến đò thôn Bắc Hà.

Ở cửa lạch, người dân đóng cọc bịt ngang luồng chính bằng những cây gỗ lớn. Học tập kinh nghiệm rào làng kháng chiến của thôn Cự Nẫm, lực lượng dân quân, du kích và nhân dân Cảnh Dương lại chặt cây rào làng chiến đấu, sắp đá ngăn đường vào làng; mở giao thông hào, nhà nối nhà, xóm nối xóm; dựng chiến luỹ bằng những thùng gỗ đựng nước mắm; đặt vọng gác, trạm quan sát tàu chiến, ca nô Pháp... Lực lượng dân quân, du kích Cảnh Dương tổ chức thành 11 trung đội cảm tử  ở 11 xóm, sau phiên chế thành 3 đại đội trấn giữ ở mặt làng. Ngoài ra còn có trung đội lão quân, trung đội nữ quân và trung đội thiếu niên quân. Cả làng tuân theo một khẩu hiệu chung: giặc đến tất cả đánh giặc.
Không chỉ bảo vệ quê hương làng xóm của mình, cán bộ, lực lượng dân quân, du kích và nhân dân Cảnh Dương còn chi viện sức người, sức của cho vùng bị tạm chiếm. Đoàn vận tải Cảnh Dương gồm hàng chục con thuyền ngày đêm vượt qua phong ba, sự phong toả của tàu địch để chuyên chở hàng trăm tấn vũ khí và lương thực từ Thanh Nghệ Tĩnh vào chiến trường Bình Trị Thiên... Lực lượng dân quân, du kích Cảnh Dương còn phối hợp với bộ đội chủ lực, Đại đội 5 của huyện tham gia nhiều chiến dịch: chiến dịch xuân hè 1949-1950; phục kích bao vây, chặn đường tiếp viện giữa Thanh Khê - Ba Đồn...

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, qua 120 trận càn của giặc, làng chiến đấu Cảnh Dương vẫn trụ vững. Máu của quân và dân Cảnh Dương đỏ thắm trên từng nẻo đường thôn xóm trong những ngày bám làng, giữ làng chống giặc. Cách mạng Tháng 8 thành công ở Cảnh Dương, đã thổi vào lòng nhân dân lao động một luồng sinh khí mới, niềm tin và lòng tự hào dân tộc được nâng cao.
... Sắc đỏ hôm nay
Trở về Cảnh Dương trong không khí cả nước náo nức kỉ niệm 67 năm  Cách mạng Tháng 8 thành công, làng chiến đấu xưa nay đã vươn mình, vững vàng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới.
  
Một góc làng biển Cảnh Dương hôm nay
Một góc làng biển Cảnh Dương hôm nay
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đảng bộ và nhân dân Cảnh Dương đã từng bước chuyển đổi cơ cấu, thành phần kinh tế cho phù hợp trong thời kỳ mới. Phát triển mạnh, đa dạng hoá các ngành nghề sản xuất và dịch vụ... Với sự hỗ trợ, khuyến khích của Nhà nước, ngư dân Cảnh Dương hôm nay đã có những con tàu lớn cùng ngư lưới cụ hiện đại, đủ sức vươn ra khơi xa bám biển dài ngày để đánh bắt thuỷ hải sản. Ông Đồng Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND xã Cảnh Dương cho biết, toàn xã hiện có 386 tàu thuyền, giải quyết việc làm thường xuyên cho 2.198 lao động. Tổng sản lượng đánh bắt hải sản năm 2011 đạt gần 3.000 tấn, 6 tháng đầu năm 2012 là 2.068 tấn, tăng so với cùng kỳ 464,12 tấn; trong đó hàng xuất khẩu đạt 80%, doanh thu hơn 131 tỷ đồng. Bình quân thu nhập của mỗi lao động biển đạt khoảng 4 triệu đồng/tháng. 
Ngư nghiệp phát triển đã thúc đẩy các ngành nghề như chế biến hải sản, sửa chữa cơ khí, điện, đóng tàu, sản xuất đá lạnh... phát triển mạnh mẽ. Trong 6 tháng đầu năm 2012, lĩnh vực này đã phát huy duy trì ổn định sản xuất, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng. Nhiều cơ sở đã tập trung đầu tư vốn, củng cố mở rộng sản xuất, kinh doanh, giải quyết cho nhiều lao động có việc làm thường xuyên. Thu nhập bình quân khoảng từ 1,9 - 2,5 triệu đồng/người/tháng. Đặc biệt, tại xã Cảnh Dương hiện có 2 cơ sở nuôi cá sấu, khoảng 50 - 80 con/cơ sở, đang phát huy hiệu quả. Chính nhờ phát triển mạnh, đa dạng hoá các ngành nghề sản xuất và dịch vụ... xã Cảnh Dương đã giải quyết được vấn đề việc làm, nâng cao đời sống cho người dân. 
Cùng với sự phát triển về kinh tế, các công trình phúc lợi ở Cảnh Dương được chú trọng đầu tư xây dựng. Từ năm 2000 đến nay, Cảnh Dương đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng công trình như điện, nước sạch, kè sông, trường tiểu học, trường THCS, bê tông hoá đường giao thông, cổng làng, trụ sở làm việc của UBND xã, nhà văn hoá thôn, nhà văn hoá - truyền thống xã... Những công trình mới được xây dựng đã làm cho bộ mặt làng biển Cảnh Dương thay da đổi thịt. Với truyền thống là đất học, trong "Bát danh hương" của Quảng Bình, Cảnh Dương luôn chăm lo đến việc học hành của con em. Công tác giáo dục của các trường học luôn quán triệt thực hiện nhiệm vụ của năm học đã đề ra với tinh thần tiếp tục thực hiện "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn liền với cuộc vận động "Hai không". Xã cũng thường xuyên củng cố, giữ gìn nét văn hoá truyền thống; chú trọng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân...
Đặc biệt, xã Cảnh Dương đã xây dựng được 12 đài truyền thanh, tập trung tuyên truyền chuyên đề: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Luật Đất đai, Luật Phòng chống ma túy, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên... Sáu tháng đầu năm 2012 đã có 72 buổi phát thanh/ 246 tin bài với sự tham gia của lực lượng cộng tác viên gồm 19 đồng chí. Công tác xây dựng, củng cố hệ thống chính trị được cấp uỷ, chính quyền xã Cảnh Dương đặc biệt chú trọng. Các tổ chức đoàn thể như thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh... được kiện toàn vững mạnh, thực sự là cầu nối giữa Đảng và nhân dân.  An ninh- trật tự, quốc phòng trên địa bàn được giữ vững.
Gian khổ trong chiến đấu, khó khăn trong khôi phục, phát triển kinh tế, nhưng Cảnh Dương vẫn luôn vững vàng, bền chí vượt qua để gặt hái thành công. Cảnh Dương hôm nay đã là một làng quê giàu đẹp, văn minh, là điểm sáng về xây dựng nông thôn mới.
                                                                                          Lê Mai



Tín ngưỡng thờ phụng cá voi ở xã Cảnh Dương


Làng biển Quảng Bình sau tết nhộn nhịp sửa soạn làm ăn vụ cá mới. Nghi thức cúng biển được xướng lên bay bổng với những câu hò khoan dìu dặt bên chân sóng. Bước chân trên cát, được đắm mình trong không gian dân ca mặn mòi mùa biển, thấy khí chất làng bên bờ biển Đông cường tráng, mạnh mẽ của mùa xuân tươi.

Bên chân sóng rì rào của xã biển Cảnh Dương, hơn 10.000 ngư dân hướng về đền thờ Hiển Linh Ngư khói hương cầu khấn thần biển, nơi đặt 2 bộ xương cá voi khổng lồ mà tương truyền, người dân được biển Đông báo mộng từ hai trăm năm trước là cá ông, cá bà vào táng trợ ngư dân. Cứ mỗi mùa đánh bắt cá khơi năm mới, ngư dân nào ở Cảnh Dương (Quảng Trạch) và vùng phụ cận dưới núi Hoành Sơn đều vượt sông Loan, băng đường núi Phượng tìm đến Hiển Linh Ngư cúc cung hương khói, cúng mật tận tâm, mong một mùa đánh bắt bội thu trước sóng cả ba đào.


Chân dũi trên đồi cát, đi về phía biển, tìm những lão ngư còn biết tích xưa chuyện cũ hai bộ xương cá voi trong Hiển Linh Ngư, được biết, người làng còn cất giữ Trương Trung Tây gia phả ghi lại cảnh tiếc thương hai cá ông, cá bà vào táng trước biển làng. Gia phả dòng họ Trương của làng còn điển ghi: vào đời Gia Long thứ 9 (1809-Kỷ Tỵ) một bà cá voi nặng hơn trăm tấn, dạt vào biển Cảnh Dương, người dân cúng quải linh đình, gọi tên cá Bà. Vào năm Duy Tân 16 (Đinh Mùi-1907), một cá ông voi cũng dạt vào Cảnh Dương, người dân gọi tên là cá Ông, hương khói vọng trọng. Cả hai sau đó được rước vào Hiển Linh Ngư, cung kính miếu táng đến hôm nay.

Cách Hiển Linh Ngư mấy trăm bước chân, có một khu mộ táng dành cho cá cô, cá cậu vào chầu cá ông, cá bà. Khu địa táng này có chừng một trăm ngôi mộ dành riêng cho các loài cá vài tấn chết trước Hiển Linh Ngư. Giải thích của ngư dân về tâm linh rằng, những cá cô, cá cậu vào đó không phải vì sức cùng lực kiệt mà tất cả đều vào để hầu cận hiển linh. Chính vì thế tương truyền, những cá cô cá cậu đưa đi chôn, không hề có mùi tanh của chết chóc, ruồi nhặng cũng tránh xa, khi quấn vải, hai bên sườn cá thường xuất hiện những vân đẹp như chữ hán cổ. Năm 2009, một con cá voi nhỏ 3 tấn dạt vào bờ, người làng cũng thấy bốn chữ hán hai bên sườn, người già của làng diễn nôm là “quốc thái dân an”.

Với biển, người Cảnh Dương vô cùng biết ơn bởi biển cho họ cuộc trường tồn phát triển mấy trăm năm mở đất lập nghiệp. Chính vì thế, cách thờ tôn cá thành thần càng cho họ tự tin vươn khơi trong tín ngưỡng tô tem.
  • Câu hát vào mùa
Cảnh Dương có cuộc sống mạnh mẽ về văn hóa khí cốt biển truyền đời hơn nửa thế kỷ khai đất. Mỗi mùa cầu ngư đầu xuân, dân ngư phu vẫn hát: “Nay mừng mở hội cầu Xuân/ Trời sinh Thánh thượng Duy Tân trị vì/ Trời yên, biển lặng bốn bề/ Đức Ông thượng thọ nước về cõi tiên/ Lênh đênh mặt nước bao miền/ Tìm nơi đất tốt, dân hiền ghé vô/ Xuân sang lai láng biển hồ/ Ngư dân trông thấy nước vô lạch nhà/ Tưng bừng nổi trống, kết hoa/ Nghe tin làng nước gần xa đón mừng”.

Chân bước đường cát trắng mịn vỗ bờ biển Đông, rời đèo Ngang, vào với Nhân Trạch (Bố Trạch), một làng biển đẫm tình câu hò đưa linh, chèo cạn. Dáng dấp làng ngày xuân rộn ràng trẩy hội hát hò. Hội chơi trước biển ở làng lắng động ở vòm ngực: “Non Nam phượng múa/Núi Bắc rồng chầu/Đất làng con hiếu võ cao sâu/Ngoài hương án ông cao vòi vọi/Tiếng ông linh vang dồn tám cõi/Sắc tứ phong sáng chói ngàn thu/Nay vui mừng vạn mở ca cù/Con nhi nữ chèo ba mở mái”. Đấy là lời xưng mượt mà của đoạn chèo cạn nghe được bên sóng biển đất quê.

Mảnh làng văn hóa vào tháng giêng này còn xướng lên giọng hò đưa linh của ngư phủ trước biển rằng: “Biển đông đài cát đại ngàn biển đông/Cúi đầu trăm lạy Đức ông/Cầu cho thất ứng, thất thông nhiều bề/Anh linh hiển hách nhiều bề/…Lý Nhân Nam vui thú hảo hề/Đức bà đẹp ý ghé vô lạch nhà…”.

Điệu linh vút bay, lúc vào cao trào, những nhịp phách, tiếng trống, nhịp chiêng phối âm rộn ràng, làm bài ca múa quạt của phường chèo cạn quẫy vui như tiếng cá đêm trăng. Điệu hát tiếp tục ngơi ca quê hương sông núi hiền từ:“Nhìn xem phong cảnh làng ta/Trên sơn, dưới thủy đậm đà ái ân/Dân làng mở hội cầu Thần/Ông bà ứng cảm muôn phần vận may/Hải hà trống mở, cờ bay/Bốn bề nam bắc, đông tây rộn ràng/Thiên văn, địa lý hai hàng/Lên bành cưỡi ngựa, đại quan xuất hành/Cầu cho làng vạn hai gành/Thiên hạ đại cát dân an thái bình/Ngư thần an ngự trước lăng/Đặt bàn hương án kiệu xanh lộng vàng…”.

Mùa tết trên cát, người làng biển hò khoan mạnh mẽ như tiếng mái chèo đẩy sóng: “Hò… là… hô… là… là… hô… hô… là…/Là… hò… la… hô… là… la… hô… là…/Đưa mái chèo thuyền nhanh băng ra khơi/Lướt sóng, đẩy thuyền ta đi chơi vơi/Hò… là… hô… là…/ Nắng tỏa về phương trời mọc/Biển rộng bao la/Như ôm ấp những xóm làng/Kìa đàn cá lượn ngoài khơi/Cánh buồm vươn trong nắng mới/Lưới ta tung ra no ấm cả đời này/Lưới ta tung ra cho biển lặng, trời yên/Dô khoan/Lưới ta tung ra/Hò khoan/Chặn đầu cá ta đánh”… Đây là điệu vui của mùa tết mỗi năm từ làng biển xứ cát.

  • Khai tâm chia biển
Người làng biển sống với nhau thân mật, hóm hỉnh với thường nhật kiếm tìm cái ăn trên biển. Vậy nên ở làng biển Thanh Bình, có tục chia biển ngay từ bữa khơi đầu năm. Làng đánh lộng, mỗi xóm chừng chục nóc nhà huy động ngư phu ra lộng khi khí trời sang xuân mặn. Tảng sáng của một đêm mùa xuân, lão ngư vác lưới, tay lưới mang theo những rượu, nếp cúng từ nhà. Họ trải mẹt lá trên cát, bày biện những vật cúng từ mười nóc nhà, cầu khấn thần biển mùa năm mới làm ăn được tốt và cho thiêng sức đoàn kết. Trong tâm thức cha ông ngư phu truyền lại, cầu làm ăn tốt không phải để tư riêng đủ đầy mà mong điều đó đến để còn chia lộc biển cho gia đình neo đơn.

Những ngư dân già nhất kể rằng, làng cát xưa nghèo không có thứ gì dồi dào bằng tình cảm chòm xóm. Những mẻ cá đưa lên từ sức vóc trai tráng của làng thường chia quanh xóm, quanh làng, còn dư nhiều sẽ đi đổi gạo, gạo đưa về cũng chia cho những lão ngư già bị mù, hay những hòn vọng phu mất chồng trước sóng cả bão tố. Người làng nói đó là khai tâm của tình cảm chia biển. Của rường cột linh hồn miền quê thường chống chọi với các thiên tai gió mưa.

Nay, chuyến khơi đầu năm ở làng lộng nhỏ bé này vẫn giữ nguyên sự thống thiết ân tình đó. Mớ cá đánh lên có thể ít đi, nhưng bể đời thương yêu vẫn dạt dào cưu mang nhau về linh hồn khai tâm khăng khít của cội rể làng biển. Một ngư dân từng nói trước biển làng mùa xuân: “Mỗi dân làng như một hạt cát. Mỗi hạt cát tách ra bị gió cuốn đi nhưng đứng sát nhau thành đụn cát, thành núi cát là che được cho nhau trước gió bão phong ba”.

Mùa xuân làng biển, gia tài văn hóa cất giữ trong vỉa tầng hồn cát được xướng lên để bảo ban con cháu giữ lấy hồn cốt cha ông cho mạch nguồn yêu đất, yêu làng cứ thế được kể cho đàn con cháu mỗi lứa sinh thêm cho cuộc đời bền bỉ dựng xây là bài học không chỉ của người miệt biển. Đó là gia tài trân quý mà cha ông ban tặng. 
Bài, ảnh: MINH PHONG